Đất đỏ bazan là loại đất hình thành khi đá bazan, tức dung nham núi lửa đã nguội, bị phong hoá hàng trăm nghìn tới hàng triệu năm trong khí hậu nóng ẩm. Quá trình này rửa trôi phần lớn các chất dễ tan và để lại nhiều ô-xít sắt, nhôm, nên đất có màu đỏ, nâu đỏ đặc trưng. Ở Việt Nam, đất bazan tập trung nhiều nhất ở Tây Nguyên, sau đó là Đông Nam Bộ, cùng một số khu vực rải rác ở miền Trung.
Đất này hợp cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và cao su vì tầng đất dày, tơi xốp, thoát nước tốt mà vẫn giữ ẩm, lại nằm trên các cao nguyên rộng bằng phẳng thuận tiện canh tác. Nhược điểm là đất chua, nghèo lân dễ tiêu và dễ bị xói mòn khi trồng trên dốc mà không che phủ.
Phần dưới giải thích đất bazan hình thành ra sao, nằm ở đâu, tốt và dở chỗ nào, cách nhận biết khi đi xem đất và những cách cải tạo cơ bản cho vườn nhà.
Đất đỏ bazan hình thành như thế nào
Cách đây vài triệu năm, nhiều vùng ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ có hoạt động núi lửa phun trào. Dung nham bazan loãng tràn ra thành những lớp phủ rộng, sau nguội thành đá đen xám. Dấu vết vẫn còn rõ: các miệng núi lửa cổ ở Chư Đăng Ya (Gia Lai), Biển Hồ (hồ T’Nưng, Gia Lai), hệ thống hang động trong đá bazan ở Công viên địa chất Đắk Nông (nay thuộc Lâm Đồng), hay vùng núi lửa cổ quanh Xuân Lộc (Đồng Nai).
Đá bazan giàu các khoáng chứa sắt, magiê, can-xi. Khí hậu nhiệt đới mưa nhiều và nắng nóng làm đá vỡ vụn, các khoáng bị phân giải, can-xi và magiê bị nước mưa cuốn dần đi, còn sắt và nhôm ở lại dưới dạng ô-xít. Sắt ô-xi hoá cho màu đỏ gạch giống gỉ sắt. Theo thời gian, tầng đất có thể dày vài mét, thậm chí hơn 10 m ở những nơi địa hình bằng.
Trong tài liệu thổ nhưỡng, nhóm đất này thường được gọi là đất đỏ vàng trên đá bazan, hoặc theo cách phân loại quốc tế là nhóm Ferralsols. Người làm vườn chỉ cần nhớ: đất đỏ bazan là đất già, đã bị rửa trôi mạnh, nên giàu cấu trúc tốt nhưng không giàu dinh dưỡng dễ tiêu như nhiều người tưởng.
Đất đỏ bazan phân bố ở đâu tại Việt Nam
Tây Nguyên chiếm phần lớn diện tích đất bazan cả nước, với hơn một triệu héc-ta. Các khối lớn nằm ở cao nguyên Pleiku (Gia Lai), cao nguyên Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk), cao nguyên Đắk Nông và Bảo Lộc – Di Linh (nay cùng thuộc Lâm Đồng). Kon Tum cũ (nay thuộc Quảng Ngãi) cũng có những vùng bazan nhỏ hơn quanh Đắk Hà, Ngọc Hồi.
Đông Nam Bộ có các vùng bazan ở Đồng Nai (quanh Xuân Lộc, Long Khánh, Định Quán, Tân Phú cũ), Bình Phước cũ (nay thuộc Đồng Nai, quanh Lộc Ninh, Bù Đăng, Phước Long) và một phần Bà Rịa – Vũng Tàu cũ (nay thuộc TP. Hồ Chí Minh). Ở Bắc Trung Bộ có các dải nhỏ ở Phủ Quỳ (Nghệ An), Gio Linh – Vĩnh Linh (nay thuộc Quảng Trị).
Bản đồ phân bố đất bazan trùng gần như khớp với bản đồ cà phê, cao su, hồ tiêu và gần đây là sầu riêng của Việt Nam. Đó không phải trùng hợp: người trồng từ thời Pháp thuộc đã chọn các cao nguyên bazan để lập đồn điền vì đất sâu, dễ làm và rộng.
Ưu điểm và nhược điểm của đất đỏ bazan
Nhìn bảng dưới để hiểu vì sao cùng một loại đất mà có vườn tốt, có vườn bạc màu chỉ sau vài vụ.
| Đặc tính | Ưu điểm | Nhược điểm cần lưu ý |
|---|---|---|
| Cấu trúc | Tơi xốp, viên hạt, rễ ăn sâu dễ dàng | Khi bị nén chặt bởi máy móc hay giẫm đạp lâu ngày sẽ mất độ xốp |
| Độ dày tầng đất | Thường dày, có nơi trên 10 m, cây lâu năm phát triển bộ rễ khoẻ | Trên sườn dốc, tầng mặt bị rửa trôi nhanh nếu để đất trống |
| Nước | Thoát nước tốt, ít úng, giữ ẩm khá nhờ hạt sét mịn | Mùa khô kéo dài vẫn phải tưới; lớp mặt khô cứng nhanh khi mất mùn |
| Độ chua | Hợp với cây ưa chua nhẹ như chè, cà phê | Thường chua, pH khoảng 4–5,5, cây khó hút lân và can-xi |
| Dinh dưỡng | Mới khai phá thường giàu mùn, đạm khá | Nghèo lân dễ tiêu, kali, can-xi, magiê; giảm mạnh sau nhiều năm canh tác |
| Địa hình | Phần lớn nằm trên cao nguyên tương đối bằng | Rìa cao nguyên dốc, dễ xói mòn và sạt nếu mất lớp phủ |
Điểm mấu chốt: sức khoẻ đất bazan phụ thuộc nhiều vào lượng chất hữu cơ. Khi mùn bị mất đi, đất chua thêm, cứng lại và giữ dinh dưỡng kém, dù màu vẫn đỏ đẹp.
Vì sao cà phê, hồ tiêu, sầu riêng ưa đất bazan
Cà phê cần tầng đất sâu và thoát nước. Rễ cọc cà phê có thể ăn sâu hơn một mét. Đất bazan dày, xốp và thoát nước giúp cây chịu được mùa khô dài ở Tây Nguyên khi có tưới bổ sung, đồng thời không bị úng gốc trong mùa mưa.
Hồ tiêu sợ úng. Hồ tiêu rất nhạy với bệnh chết nhanh, chết chậm do nấm và tuyến trùng phát triển mạnh khi đất ngập nước. Đất bazan thoát nước tốt giảm được nguy cơ này, với điều kiện vườn có rãnh thoát và mật độ hợp lý.
Sầu riêng cần đất sâu, giàu hữu cơ và không đọng nước. Sầu riêng có bộ rễ nhạy với ngập úng; đất bazan đã được bổ sung phân hữu cơ đáp ứng khá tốt yêu cầu này. Đó là lý do diện tích sầu riêng mở rộng nhanh ở Đắk Lắk, vùng Đắk Nông cũ và Bảo Lộc trong những năm gần đây.
Khí hậu đi kèm cũng quan trọng. Không phải chỉ đất. Cao nguyên bazan có mùa khô rõ giúp cà phê phân hoá mầm hoa đồng loạt, độ cao vừa phải giúp hạt chín chậm, chất lượng tốt hơn. Cùng loại đất bazan nhưng ở vùng thấp nóng ẩm quanh năm, kết quả trồng cà phê sẽ khác.
Nhận biết và cải tạo đất bazan khi làm vườn
Đi xem đất hoặc bắt đầu cải tạo vườn trên đất bazan, có thể làm theo trình tự sau:
- Nhìn màu và bóp thử: đất bazan tốt có màu đỏ nâu tới nâu sẫm, cầm nắm thấy tơi, vỡ thành hạt nhỏ, không dính bết như đất sét thịt nặng. Đất có màu nhạt, vàng, cứng như gạch thường đã mất nhiều mùn.
- Đào hố quan sát: đào sâu khoảng 60–80 cm để xem tầng đất có đồng nhất không, có lẫn đá ong, sỏi sắt hay tầng cứng bên dưới không. Tầng mỏng hoặc gặp đá sớm thì cây lâu năm khó phát triển.
- Đo pH: dùng bút đo hoặc gửi mẫu tới cơ sở phân tích đất. Đất bazan thường chua; nếu pH dưới khoảng 4,5 thì cần cải tạo trước khi trồng.
- Bón vôi đúng cách: rải vôi nông nghiệp hoặc vôi dolomite trước mùa mưa, trộn vào đất, không bón cùng lúc với phân đạm và phân chuồng tươi. Liều lượng nên dựa vào kết quả đo và khuyến cáo của cán bộ khuyến nông.
- Tăng chất hữu cơ: phân chuồng đã ủ hoai, phân xanh, vỏ cà phê ủ, tàn dư cây trồng. Đây là cách bền nhất để giữ đất tơi và giữ dinh dưỡng.
- Che phủ và chống xói mòn: để cỏ thấp giữa hàng hoặc trồng cây phủ đất, tủ gốc bằng rơm, lá; trên đất dốc thì trồng theo đường đồng mức, làm bờ hoặc băng cây chắn ngang dốc.
- Bón cân đối: bổ sung lân, kali, can-xi, magiê thay vì chỉ bón đạm; theo dõi lá non để phát hiện thiếu vi lượng.
Đừng đánh giá đất chỉ bằng màu đỏ. Một vườn bazan trơ đất, không cỏ, không tủ gốc qua nhiều năm có thể kém hơn một vườn đất xám được chăm hữu cơ đều đặn.
Những sai lầm khi canh tác làm đất bazan bạc màu
Sai lầm phổ biến nhất là làm cỏ trắng gốc, để đất trống quanh năm. Mưa lớn ở Tây Nguyên rửa trôi lớp đất mặt giàu mùn chỉ sau vài mùa, nhất là trên sườn dốc. Bón nhiều phân đạm vô cơ trong khi không bổ sung hữu cơ cũng làm đất chua nhanh hơn. Thêm vào đó, dùng máy móc nặng khi đất ướt khiến tầng mặt bị nén chặt, rễ khó thở, nước thấm kém.
Một sai lầm khác là đổi cây theo phong trào mà không cải tạo đất, ví dụ phá cà phê già để trồng sầu riêng ngay trên nền đất đã chua và nhiễm nấm bệnh vùng rễ. Cây mới thường chậm lớn, dễ chết rải rác. Nên để đất nghỉ, bón vôi, trồng cây phân xanh một thời gian, kiểm tra tuyến trùng và nấm trước khi trồng lại.
Câu hỏi thường gặp
Đất đỏ bazan có phải đất tốt nhất Việt Nam không?
Đất bazan được đánh giá cao cho cây công nghiệp lâu năm nhờ tầng dày, tơi xốp và thoát nước. Nhưng với lúa nước hay rau màu cần đất giữ nước, đất phù sa đồng bằng lại hợp hơn. Không có loại đất tốt nhất cho mọi cây.
Vì sao đất bazan màu đỏ?
Màu đỏ đến từ ô-xít sắt tích tụ khi đá bazan giàu sắt bị phong hoá trong khí hậu nóng ẩm. Hiện tượng giống như sắt gỉ chuyển màu đỏ nâu. Đất càng nhiều mùn thì càng ngả nâu sẫm, đất mất mùn thì ngả đỏ tươi hoặc vàng.
Đất bazan có trồng rau được không?
Được, nhiều vùng rau quanh Đà Lạt, Đơn Dương trồng trên đất bazan và đất đỏ vàng. Cần bón vôi để giảm chua, bón nhiều phân hữu cơ hoai, làm luống cao thoát nước và tưới đều trong mùa khô vì lớp mặt khô nhanh.
Mua đất vườn bazan cần xem gì thêm ngoài màu đất?
Nên xem độ dốc, độ dày tầng đất, nguồn nước tưới mùa khô, lịch sử canh tác như trước đó trồng gì, có bị bệnh vùng rễ không, cùng với giấy tờ pháp lý và quy hoạch. Màu đất đẹp không bù được thiếu nước hay dốc quá.
Có cần bón vôi hằng năm cho đất bazan không?
Không nhất thiết hằng năm. Nên đo pH định kỳ, chẳng hạn mỗi một hoặc hai năm, rồi quyết định liều lượng. Bón quá nhiều vôi cũng làm cây khó hút một số vi lượng. Cán bộ khuyến nông địa phương có thể tư vấn theo kết quả đo.