Mỗi vùng ở Việt Nam có một kiểu rủi ro thiên tai chính: vùng núi phía Bắc và Tây Nguyên hay lũ quét, sạt lở đất trong mùa mưa; duyên hải miền Trung hứng nhiều bão và lũ lớn từ khoảng tháng 9 tới tháng 12; đồng bằng sông Cửu Long đối mặt hạn mặn mùa khô và sụt lún, sạt lở bờ sông; các đô thị lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh bị ngập do mưa lớn và triều cường. Không có vùng nào hoàn toàn an toàn, nhưng biết rủi ro chính giúp bạn chọn vị trí đất và cách làm nhà phù hợp.
Dưới đây là phần điểm qua theo từng vùng, kèm dấu hiệu nhận biết trên thực địa và danh sách tự đánh giá trước khi mua hoặc thuê nhà. Thông tin cảnh báo chính thức, bản đồ phân vùng rủi ro thiên tai do cơ quan khí tượng thủy văn và cơ quan phòng chống thiên tai các cấp công bố; nên hỏi thêm UBND xã, phường nơi bạn định ở.
Vùng núi phía Bắc: lũ quét và sạt lở
Các tỉnh như Lào Cai, Tuyên Quang (gồm cả Hà Giang cũ), Cao Bằng, Lạng Sơn, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Thái Nguyên có địa hình dốc, sông suối ngắn và lưu vực hẹp. Mùa mưa từ khoảng tháng 5 tới tháng 9, những trận mưa lớn tập trung có thể sinh lũ quét chỉ sau vài giờ: nước, bùn, đá và cây đổ tràn xuống thung lũng với tốc độ cao, ít thời gian cảnh báo.
Hoàn lưu bão Yagi tháng 9/2024 là ví dụ gần đây cho thấy mức độ nguy hiểm khi mưa cực lớn trên nền đất đã bão hoà: nhiều vụ sạt lở và lũ quét xảy ra cùng lúc ở các tỉnh miền núi phía Bắc, có những thôn bản bị vùi lấp. Điểm chung của các khu bị nặng là nhà nằm dưới chân sườn dốc, cạnh khe suối hoặc trên bãi bồi ven suối.
Với người định cư hoặc mua đất ở vùng núi, nguyên tắc cơ bản là tránh ba vị trí: sát chân taluy cao vừa bạt để làm đường hoặc san nền, cửa khe suối nơi hai dòng nước gặp nhau, và bãi đất bằng ven suối có nhiều đá cuội lớn, dấu hiệu từng có lũ mang đá về.
Duyên hải miền Trung: bão, lũ lớn và sạt lở núi
Dải đất từ Thanh Hoá tới Khánh Hoà hẹp, phía tây là dãy Trường Sơn, phía đông là biển. Mùa bão và mưa lớn ở Bắc Trung Bộ thường đến sớm hơn, khoảng tháng 8–10; Trung và Nam Trung Bộ muộn hơn, khoảng tháng 9–12. Mưa trên sườn núi đổ xuống những con sông ngắn, dốc, nên nước lên rất nhanh ở đồng bằng ven biển như vùng Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi.
Tháng 10/2020, một chuỗi bão và áp thấp liên tiếp gây mưa kéo dài khiến nhiều điểm ở miền Trung bị sạt lở nghiêm trọng, như ở khu vực thủy điện Rào Trăng 3 (Huế) và các xã miền núi Quảng Nam cũ (nay thuộc Đà Nẵng) và Quảng Trị. Ven biển còn có nguy cơ nước dâng do bão và xói lở bờ biển, nhất là ở những khu dân cư sát mép cát.
Người dân miền Trung có nhiều kinh nghiệm sống chung với lũ: nhà có gác hoặc tầng lửng, nền cao, cất đồ đạc quý trên cao, chuẩn bị lương thực trước mùa mưa. Khi chọn đất ở đây, nên hỏi mức nước lớn nhất từng xảy ra, chẳng hạn trận lũ năm 1999 hay các trận lũ lớn gần đây, rồi tính nền nhà cao hơn mức đó.
Tây Nguyên: sạt lở đất đồi và hạn mùa khô
Tây Nguyên ít bão trực tiếp hơn miền Trung, nhưng mùa mưa kéo dài khiến đất đỏ bazan trên sườn dốc thấm no nước, dễ trượt ở những chỗ đã bị bạt taluy, phá rừng hoặc san lấp. Những năm gần đây có các vụ sạt lở ở khu dân cư đồi dốc quanh Đà Lạt, Bảo Lộc và đèo dốc trên các tuyến quốc lộ trong mùa mưa. Ngập cục bộ cũng xảy ra ở khu trũng trong thành phố khi mưa lớn.
Ngược lại, mùa khô từ khoảng tháng 12 đến tháng 4, nhiều nơi thiếu nước tưới, giếng cạn, hồ đập nhỏ trơ đáy, nhất là năm có hiện tượng El Niño. Người mua đất vườn ở Tây Nguyên nên coi nước mùa khô là rủi ro hàng đầu, ngang với độ dốc. Khu vực Kon Tum cũ còn ghi nhận nhiều trận động đất nhỏ thời gian gần đây, đa số cường độ thấp, cơ quan chuyên môn đang theo dõi.
Đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng và đô thị lớn
Hai đồng bằng lớn và các đô thị có rủi ro khác hẳn vùng núi: nước lên chậm hơn nhưng kéo dài, và thay đổi dần theo năm.
| Vùng | Rủi ro chính | Thời điểm hay gặp | Dấu hiệu, lưu ý khi chọn nơi ở |
|---|---|---|---|
| Ven biển miền Tây (vùng Bến Tre, Trà Vinh cũ nay thuộc Vĩnh Long, Sóc Trăng cũ nay thuộc Cần Thơ, Cà Mau, Bạc Liêu cũ nay thuộc Cà Mau) | Xâm nhập mặn, thiếu nước ngọt; xói lở bờ biển | Mùa khô, đỉnh khoảng tháng 2–4; năm hạn nặng như 2016, 2020 | Hỏi nước sinh hoạt lấy từ đâu khi kênh nhiễm mặn; nhà có bể, lu trữ nước mưa không |
| Dọc sông Tiền, sông Hậu | Sạt lở bờ sông, nước nổi | Mùa lũ khoảng tháng 8–11 | Tránh nhà sát mép sông, vết nứt đất song song bờ, cây nghiêng ra sông |
| Toàn đồng bằng sông Cửu Long | Sụt lún đất, một phần do khai thác nước ngầm | Diễn ra từ từ hằng năm | Nhà phải nâng nền nhiều lần, nước triều vào sâu hơn trước |
| TP. Hồ Chí Minh và đô thị ven sông | Ngập do triều cường kết hợp mưa lớn | Triều cường cao khoảng tháng 9–12 | Xem vệt nước, hỏi nhà xung quanh đã nâng nền chưa |
| Hà Nội và đồng bằng sông Hồng | Ngập úng khi mưa lớn; khu ngoài đê có nguy cơ khi lũ sông lớn | Mùa mưa khoảng tháng 6–9 | Nắm vị trí đê, khu ngoài bãi sông, đường hay ngập khi mưa lớn |
Sụt lún và hạn mặn là rủi ro âm thầm: không gây thiệt hại đột ngột như lũ quét nhưng tích luỹ theo năm. Với người định cư lâu dài ở miền Tây, nên tìm hiểu kỹ nguồn nước ngọt và mức độ sụt lún ở khu vực trước khi xây nhà kiên cố.
Tự đánh giá một khu đất trước khi mua hoặc thuê
Không cần là chuyên gia, bạn vẫn có thể giảm nhiều rủi ro bằng cách làm đủ các bước sau:
- Hỏi người địa phương lâu năm: người già trong xóm, người bán hàng, chạy xe ôm. Hỏi trận lũ lớn nhất họ nhớ, nước lên tới đâu, có sạt lở gần đây không, mùa khô nước có mặn không.
- Tìm vết ngập: vệt ố trên tường, cột điện, thân cây; rác vướng trên cành cao; nhà xung quanh nâng nền, xây bậc cao, đặt tấm chắn cửa.
- Đọc địa hình: đất thấp hơn đường hay cao hơn; sát chân dốc hay trên lưng đồi; gần khe suối, mép sông hay bờ biển; sườn dốc phía sau có vết nứt, cây nghiêng không.
- Đi xem vào đúng mùa xấu: sau một trận mưa lớn, vào ngày triều cường hoặc cuối mùa khô, để thấy tình trạng thật thay vì lúc trời đẹp.
- Hỏi chính quyền: UBND xã, phường có danh sách điểm có nguy cơ sạt lở, khu vực phải di dời, khu ngoài đê. Hỏi luôn quy hoạch công trình phòng chống thiên tai như kè, đê, hồ chứa.
- Tính chi phí phòng ngừa: nâng nền, tường chắn, rãnh thoát nước, bể trữ nước ngọt, gác lửng. Cộng vào giá mua để so sánh các khu đất một cách công bằng.
- Chuẩn bị kế hoạch an toàn: biết đường sơ tán, nơi trú an toàn gần nhất, theo dõi bản tin dự báo và cảnh báo thiên tai chính thức trong mùa mưa bão.
Một khu đất có rủi ro không nhất thiết phải bỏ, miễn là bạn biết rõ rủi ro đó và có cách phòng ngừa vừa với túi tiền. Điều nguy hiểm nhất là mua trong lúc trời đẹp mà không hỏi ai.
Làm nhà và chuẩn bị theo từng loại rủi ro
Vùng hay ngập. Nâng nền cao hơn mức nước lớn nhất từng ghi nhận ở khu vực, đặt ổ điện, công tơ cao, làm gác hoặc tầng lửng để cất đồ. Ưu tiên vật liệu chịu nước ở tầng trệt như gạch men, cửa nhôm, tránh sàn gỗ.
Vùng đồi dốc có nguy cơ sạt. Không bạt taluy dựng đứng sau nhà, làm rãnh thoát nước mưa chạy quanh và dẫn xa khỏi nền, trồng cỏ, cây rễ sâu giữ đất. Khi mưa kéo dài nhiều ngày mà thấy nứt đất, nghe tiếng động lạ từ sườn núi, nên sơ tán sớm theo hướng dẫn của địa phương.
Vùng bão. Mái tôn cần bắt vít chắc, có thanh giằng; chằng chống trước mùa bão; cắt tỉa cây lớn gần nhà; chuẩn bị đèn pin, sạc dự phòng, nước uống và thuốc men cơ bản cho vài ngày.
Vùng hạn mặn. Làm bể chứa nước mưa, lu, túi trữ nước ngọt đủ cho mùa khô; theo dõi thông báo độ mặn của địa phương trước khi lấy nước tưới. Cây trồng nên chọn loại chịu mặn tốt hơn hoặc lịch vụ né đỉnh mặn.
Câu hỏi thường gặp
Vùng nào ở Việt Nam ít thiên tai nhất?
Không có vùng nào hoàn toàn không có thiên tai. Một số khu vực ít bão trực tiếp như phần lớn Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, nhưng vẫn có sạt lở cục bộ, hạn mùa khô hoặc ngập đô thị. Quan trọng hơn là vị trí cụ thể của thửa đất trong vùng.
Làm sao biết khu đất có nằm trong vùng nguy cơ sạt lở không?
Hỏi UBND xã, phường về các điểm đã được cảnh báo hoặc khoanh vùng nguy cơ sạt lở. Tự quan sát thêm: vết nứt đất, cây nghiêng, taluy cao dựng đứng, mạch nước rỉ ở chân dốc. Khi thấy các dấu hiệu này, nên tránh làm nhà ngay dưới chân dốc.
Mùa bão ở Việt Nam là tháng mấy?
Mùa bão thường kéo dài khoảng từ tháng 6 tới tháng 12. Bão hay ảnh hưởng tới Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ sớm hơn, khoảng tháng 7–9; miền Trung và Nam Trung Bộ muộn hơn, khoảng tháng 9–12. Mỗi năm có thể lệch so với quy luật chung.
Hạn mặn ở miền Tây có xảy ra hằng năm không?
Xâm nhập mặn mùa khô diễn ra hằng năm ở vùng ven biển, nhưng mức độ khác nhau. Có những năm rất nặng như mùa khô 2015–2016 và 2019–2020, mặn vào sâu trong nội đồng. Người dân thường chuẩn bị bể, lu chứa nước ngọt từ trước mùa khô.
Thuê nhà ở vùng hay ngập cần lưu ý gì?
Hỏi chủ nhà mức nước từng vào nhà, chọn tầng trên nếu có thể, để ổ cắm điện và đồ điện tử ở chỗ cao, tìm chỗ gửi xe không bị ngập. Ghi rõ trong hợp đồng trách nhiệm sửa chữa khi nhà hư hỏng do ngập để tránh tranh cãi sau này.