NhimLongXanh.comNhím Lông Xanh
Tên miền và website

Bản ghi A, CNAME, MX, TXT khác nhau thế nào: giải thích kèm ví dụ cấu hình

Bản ghi DNS A, AAAA, CNAME, MX, TXT, NS dùng làm gì, điền giá trị ra sao, ví dụ cấu hình hoàn chỉnh cho website và email, cùng các bẫy CNAME gốc, trùng bản ghi, TTL.

Top-down view of colorful wooden puzzle pieces being fitted together by Vietnamese hands on a bright yellow desk next to a closed laptop, crisp daylight

Mỗi loại bản ghi DNS trả lời một câu hỏi khác nhau: A cho biết website nằm ở địa chỉ IPv4 nào; AAAA làm việc đó với IPv6; CNAME nói "tên này là bí danh của tên kia"; MX chỉ máy chủ nào nhận thư cho tên miền; TXT chứa đoạn chữ dùng để xác minh quyền sở hữu và chống giả mạo email; NS cho biết nameserver nào giữ danh bạ. Một website kèm email theo tên miền thường chỉ cần khoảng năm đến mười bản ghi.

Phần dưới có bảng so sánh, một bộ cấu hình mẫu hoàn chỉnh cho tên miền giả định cuahangabc.vn (địa chỉ IP và tên máy chủ thư đều là ví dụ minh hoạ), và những bẫy khiến website hay email chạy chập chờn mà khó tìm ra nguyên nhân.

Bảng so sánh các loại bản ghi

Trong trang quản lý DNS, mỗi bản ghi có bốn ô chính: Tên (Host, Name), Loại (Type), Giá trị (Value, Points to, Data) và TTL. Ký hiệu @ ở ô tên nghĩa là chính tên miền gốc.

LoạiDùng làm gìGiá trị điềnVí dụ
ATrỏ tên về địa chỉ IPv4 của máy chủBốn cụm số@ trỏ về 203.0.113.10
AAAATrỏ tên về địa chỉ IPv6Dãy số và chữ phân cách bằng dấu hai chấmChỉ thêm khi hosting có IPv6 thật
CNAMEĐặt bí danh: tên này dùng y nguyên kết quả của tên kiaMột tên miền khác, không phải IPwww trỏ về cuahangabc.vn
MXChỉ máy chủ nhận thư cho tên miềnTên máy chủ thư kèm số ưu tiên@ ưu tiên 10 trỏ về mx1 của dịch vụ email
TXTChứa đoạn chữ để xác minh, khai báo chính sách gửi thưChuỗi ký tự, thường trong ngoặc képChuỗi xác minh do dịch vụ cấp, bản ghi SPF
NSChỉ nameserver giữ danh bạ của tên hoặc tên miền conTên nameserverThường do hệ thống tự tạo, ít khi phải sửa

Bạn chỉ cần thuộc ba loại đầu tiên là đủ dùng cho website; MX và TXT dành cho email và xác minh dịch vụ. Còn các loại khác như SRV (dùng cho một số dịch vụ gọi điện, nhắn tin nội bộ) hay CAA (giới hạn ai được cấp chứng chỉ SSL cho tên miền) thì chỉ thêm khi dịch vụ cụ thể yêu cầu.

Giải thích từng loại kèm cách điền

Bản ghi A. Loại phổ biến nhất. Ô tên điền @ cho tên miền gốc, hoặc tên miền con như shop, blog; ô giá trị điền IP máy chủ. Một tên có thể có nhiều bản ghi A với nhiều IP khi dùng nhiều máy chủ chia tải, nhưng với website nhỏ, hai bản ghi A khác IP cho cùng một tên thường là lỗi do quên xoá bản cũ.

Bản ghi CNAME. Dùng khi bạn muốn một tên luôn đi theo một tên khác. Lợi ích: khi IP thay đổi, chỉ cần sửa bản ghi A của tên gốc, mọi CNAME trỏ về đó tự đúng theo. Nền tảng làm web, dịch vụ email marketing hay dịch vụ phân phối nội dung thường yêu cầu CNAME để bạn không phải nhớ IP của họ.

Bản ghi MX. Quyết định thư gửi tới địa chỉ có đuôi tên miền của bạn sẽ về đâu. Số ưu tiên càng nhỏ càng được thử trước; nếu máy chủ ưu tiên 10 không phản hồi, thư chuyển sang máy chủ ưu tiên 20. Giá trị MX phải là tên máy chủ có bản ghi A, không được điền thẳng IP và không nên trỏ vào một CNAME.

Bản ghi TXT. Ban đầu chỉ để ghi chú, nay dùng cho ba việc chính: xác minh với công cụ quản trị tìm kiếm hay nền tảng mạng xã hội rằng bạn là chủ tên miền; SPF liệt kê những máy chủ được phép gửi thư nhân danh tên miền; và các bản ghi đi kèm như DKIM (chữ ký số cho thư) và DMARC (chính sách xử lý thư giả mạo).

Bản ghi AAAA và NS. AAAA chỉ thêm khi hosting thật sự có IPv6 và nhà cung cấp hướng dẫn; điền sai IPv6 khiến một số người dùng mạng IPv6 không vào được web dù người khác vào bình thường. NS ở tên miền gốc do hệ thống quản lý; bạn chỉ tạo NS khi muốn giao riêng một tên miền con cho nơi khác quản lý.

Ví dụ cấu hình hoàn chỉnh cho một cửa hàng nhỏ

Giả sử cửa hàng dùng tên miền cuahangabc.vn, website đặt trên hosting có IP 203.0.113.10, email theo tên miền dùng một dịch vụ thư bên ngoài, phần cửa hàng trực tuyến đặt trên một nền tảng bán hàng. Danh bạ DNS sẽ trông như sau:

TênLoạiGiá trịGhi chú
@A203.0.113.10Website chính
wwwCNAMEcuahangabc.vnwww đi theo tên gốc
shopCNAMETên do nền tảng bán hàng cấpCửa hàng trực tuyến trên nền tảng
@MXƯu tiên 10, máy chủ thư chính của dịch vụ emailNhận thư
@MXƯu tiên 20, máy chủ thư dự phòngNếu dịch vụ yêu cầu
@TXTv=spf1 include: (tên miền do dịch vụ email cấp) ~allSPF, chỉ một bản ghi
Tên do dịch vụ email chỉ địnhTXT hoặc CNAMEKhoá DKIM do dịch vụ cấpChữ ký thư
_dmarcTXTv=DMARC1; p=noneBắt đầu ở chế độ theo dõi

Đọc bảng theo từng dòng: hai dòng đầu lo website, dòng shop giao phần cửa hàng cho nền tảng mà không đụng tới website chính, hai dòng MX lo nhận thư, ba dòng cuối lo uy tín thư gửi đi. Muốn tách thêm một khu vực, ví dụ trang đặt lịch trên một dịch vụ khác, bạn chỉ thêm một dòng CNAME cho tên con mới, các dòng còn lại giữ nguyên. Cách viết SPF, DKIM và lộ trình nâng DMARC từ p=none lên quarantine rồi reject có bài riêng về email vào spam trong cùng chuyên mục; ở đây chỉ cần nhớ mỗi tên miền một dòng SPF, còn DKIM thì mỗi dịch vụ gửi thư một bản ghi riêng.

Nếu cửa hàng chưa dùng email theo tên miền, xoá hẳn các dòng MX thay vì để lại MX mặc định trỏ về hosting: thư khách gửi nhầm vào địa chỉ đuôi tên miền sẽ rơi vào một hộp thư không ai đọc. Khi đó nên thêm một dòng TXT v=spf1 -all để báo rằng tên miền này không gửi thư, giảm nguy cơ kẻ gian mạo danh tên miền gửi thư lừa khách.

Những bẫy hay gặp khi sửa bản ghi

Phần lớn sự cố DNS không do hệ thống mà do vài lỗi điền rất dễ mắc. Kiểm tra danh sách này mỗi khi website hay email chạy không ổn định:

  • Đặt CNAME ở tên miền gốc: theo chuẩn kỹ thuật, tên @ không được là CNAME vì nó luôn phải có bản ghi NS và các bản ghi khác. Một số nhà cung cấp có loại bản ghi riêng giải quyết chuyện này (thường gọi là ALIAS, ANAME hoặc làm phẳng CNAME); nếu không có, dùng bản ghi A cho tên gốc.
  • CNAME đứng chung với bản ghi khác: một tên đã là CNAME thì không được có thêm bản ghi A, MX hay TXT cùng tên đó. Trang quản lý tốt sẽ báo lỗi, nhưng có nơi vẫn cho lưu và gây trục trặc khó hiểu.
  • Hai bản ghi SPF: mỗi tên miền chỉ được một bản ghi TXT bắt đầu bằng v=spf1. Dùng hai dịch vụ gửi thư thì gộp vào một dòng với nhiều include, đừng tạo dòng thứ hai.
  • Trùng bản ghi A: bản ghi A cũ trỏ về trang đỗ của nhà đăng ký còn sót lại khiến khách lúc vào được web mới, lúc ra trang đỗ.
  • Lỗi dấu chấm cuối và tên lặp: nhiều trang quản lý tự thêm tên miền vào sau ô tên. Bạn gõ shop.cuahangabc.vn vào ô tên, kết quả thành shop.cuahangabc.vn.cuahangabc.vn. Ở ô tên chỉ gõ phần tên con. Ở ô giá trị, có nơi yêu cầu dấu chấm cuối để hiểu là tên đầy đủ, có nơi tự thêm; đọc ví dụ mẫu của trang để biết.
  • TTL quá dài khi sắp đổi: TTL 86400 (một ngày) nghĩa là sửa xong có thể cả ngày sau mới có hiệu lực ở mọi nơi. Hạ xuống khoảng 300 trước khi đổi, đổi xong ổn định rồi nâng lại.
  • Sửa nhầm chỗ: sửa bản ghi ở nhà đăng ký trong khi nameserver đang trỏ về nơi khác. Luôn kiểm tra nameserver hiện tại trước.

Trước mỗi lần sửa, chụp lại toàn bộ danh sách bản ghi hiện có. Nếu có gì sai, bạn khôi phục trong một phút thay vì cố nhớ giá trị cũ.

Kiểm tra từng loại bản ghi sau khi sửa

Cách nhanh nhất là dùng lệnh nslookup với tuỳ chọn loại bản ghi. Trên Windows, mở cửa sổ dòng lệnh và gõ nslookup, dấu cách, -type=mx, dấu cách, rồi tên miền, kết quả liệt kê các máy chủ thư cùng số ưu tiên. Thay mx bằng txt để xem các bản ghi TXT, bằng cname để kiểm tra bí danh. Trên Mac và Linux, lệnh dig kèm tên miền và loại bản ghi cho kết quả gọn hơn, có cả TTL còn lại.

Với email, phép thử đơn giản nhất là gửi một thư từ hộp thư cá nhân tới địa chỉ theo tên miền và trả lời ngược lại: thư tới được nghĩa là MX đã đúng. Kết quả SPF, DKIM của thư gửi đi đọc được trong phần xem bản gốc của thư (cách đọc từng dòng có trong bài về email vào spam). Với bản ghi A và CNAME, ngoài lệnh tra còn một phép thử bằng mắt: mở website ở cả dạng có và không có www trên mạng di động, cả hai phải ra cùng một trang, cùng một chứng chỉ, không cảnh báo.

Nhiều trang kiểm tra trực tuyến còn chấm điểm cấu hình email của tên miền và chỉ ra bản ghi nào thiếu hoặc sai cú pháp. Dùng chúng như bước kiểm tra cuối, nhưng luôn đối chiếu với hướng dẫn chính thức của dịch vụ email bạn dùng, vì mỗi dịch vụ có giá trị riêng.

Câu hỏi thường gặp

TTL nên đặt bao nhiêu là hợp lý?

Với website nhỏ ổn định, 3600 giây (một giờ) là mức cân bằng phổ biến. Khi sắp chuyển hosting hoặc đổi cấu hình, hạ xuống khoảng 300 giây trước ít nhất một ngày. Đặt TTL quá thấp lâu dài không gây hại lớn nhưng làm tăng số lần tra cứu.

Bản ghi CNAME và chuyển hướng tên miền khác nhau thế nào?

CNAME chỉ hoạt động ở tầng DNS, cho biết tên này dùng chung địa chỉ với tên kia, thanh địa chỉ vẫn giữ nguyên. Chuyển hướng là việc của máy chủ web, đưa người truy cập sang một địa chỉ khác và thanh địa chỉ thay đổi. Muốn gộp hai tên về một, cần chuyển hướng.

Có cần xoá bản ghi cũ khi đổi dịch vụ email không?

Cần. Bản ghi MX cũ còn sót lại khiến một phần thư đi về máy chủ cũ. Xoá MX cũ, thêm MX mới, và cập nhật SPF để thay dịch vụ cũ bằng dịch vụ mới. Nên giữ hộp thư cũ thêm vài ngày phòng thư đến trễ.

Bản ghi TXT xác minh có xoá được sau khi xác minh xong không?

Tuỳ dịch vụ. Nhiều dịch vụ kiểm tra lại định kỳ, xoá bản ghi có thể khiến bạn mất quyền xác minh. Nên giữ lại, chúng không ảnh hưởng tới website hay email. Chỉ xoá những bản ghi của dịch vụ bạn đã ngừng dùng hẳn.

Tại sao trang quản lý DNS không cho thêm CNAME cho tên www?

Thường do tên www đã có sẵn một bản ghi khác, ví dụ bản ghi A. Một tên không thể vừa là CNAME vừa có bản ghi khác. Xoá bản ghi A của www trước, rồi thêm CNAME. Nếu vẫn báo lỗi, kiểm tra xem ô tên có bị gõ thừa tên miền không.

Bài viết liên quan

Có câu hỏi hay góp ý? Viết cho Nhím Lông Xanh

Thấy bài sai, muốn đề xuất chủ đề, hay có điều muốn hỏi? Để lại lời nhắn, Nhím Lông Xanh sẽ trả lời.