NhimLongXanh.comNhím Lông Xanh
Xe cộ và lái xe

Áp suất lốp ô tô, xe máy bao nhiêu là đủ? Cách đo, cách đọc tuổi lốp và khi nào thay

Áp suất lốp chuẩn nằm ở đâu, đổi bar, psi, kPa thế nào, đo khi nào cho đúng, cách đọc 4 số DOT để biết tuổi lốp và dấu hiệu lốp đã đến lúc phải thay.

Macro close-up of a hand pressing a digital tire pressure gauge onto a car tire valve, blank gauge face, sunny driveway, shallow depth of field, orange and charcoal tones

Áp suất lốp chuẩn của chiếc xe của bạn không ghi trên thành lốp mà do nhà sản xuất xe quy định: với ô tô, tem ghi áp suất thường dán ở khung cửa phía người lái, nắp bình xăng hoặc trong sổ hướng dẫn. Xe con phổ thông hay rơi vào khoảng 2,2–2,5 bar (khoảng 32–36 psi). Xe máy phổ thông thường quanh 200 kPa bánh trước và 225 kPa bánh sau, tăng bánh sau khi chở thêm người, xem sổ của từng mẫu.

Con số in nổi trên thành lốp như "MAX PRESS 44 psi" là áp suất tối đa lốp chịu được, không phải mức nên bơm. Bơm theo số đó làm xe xóc, bám đường kém và mòn giữa mặt lốp. Phần sau hướng dẫn đo đúng, đổi đơn vị, đọc tuổi lốp và những dấu hiệu cần thay.

Đổi đơn vị bar, psi, kPa cho khỏi nhầm

Đồng hồ ở tiệm có thể hiển thị bất kỳ đơn vị nào trong ba loại. Quy đổi gần đúng: 1 bar = 100 kPa ≈ 14,5 psi.

barkPapsi (làm tròn)Thường gặp ở
2,020029Bánh trước nhiều xe máy
2,2522533Bánh sau xe máy chở một người
2,323033Xe con cỡ nhỏ
2,525036Xe con, SUV chở đủ tải
2,828041Bánh sau xe máy chở hai người (một số mẫu)

Nếu xe có hai mức trên tem, một cho chở ít người và một cho đầy tải, hãy bơm theo mức đầy tải trước khi đi xa cùng cả nhà và hành lý. Bánh trước và bánh sau ô tô cũng có thể khác nhau, đọc kỹ từng cột trên tem.

Đo áp suất đúng cách trong 5 phút

Áp suất thay đổi theo nhiệt độ: lốp vừa chạy nóng sẽ đọc cao hơn thực tế. Vì vậy cách đo quan trọng ngang con số:

  1. Đo khi lốp nguội: xe đỗ ít nhất 3 giờ, hoặc mới chạy dưới 2–3 km chậm rãi.
  2. Tháo nắp van, ấn đầu đồng hồ thẳng và dứt khoát vào van đến khi hết tiếng xì, đọc số.
  3. So với mức trên tem hoặc sổ. Thiếu thì bơm thêm từng chút, đo lại; dư thì ấn nhẹ lõi van để xả bớt.
  4. Nếu buộc phải bơm khi lốp đang nóng giữa đường, bơm cao hơn mức chuẩn khoảng 0,2–0,3 bar rồi kiểm lại khi lốp nguội, đừng xả bớt lốp nóng xuống đúng mức chuẩn.
  5. Đậy lại nắp van: nắp chặn bụi và hơi ẩm làm hỏng lõi van.
  6. Đừng quên lốp dự phòng, thứ hay bị bỏ quên nhất cho tới ngày cần dùng.

Tần suất hợp lý: ô tô kiểm mỗi tháng và trước chuyến đi xa; xe máy kiểm mỗi 2 tuần vì lốp nhỏ, lượng khí ít nên mất hơi nhanh hơn. Đồng hồ đo cầm tay giá rẻ chính xác hơn việc nhìn bằng mắt hay đá thử vào lốp.

Lốp non và lốp căng quá: mỗi bên hại gì

Lốp non hơi. Thành lốp bị gập nhiều, sinh nhiệt, hai mép vai lốp mòn nhanh, xe hao xăng và tay lái nặng. Non nặng khi chạy nhanh trên cao tốc là nguyên nhân hay gặp của nổ lốp. Xe máy non hơi còn dễ bị đánh lái khi vào cua và cán ổ gà làm méo vành.

Lốp căng quá mức. Mặt tiếp xúc với đường nhỏ lại, phần giữa lốp mòn nhanh, xe nảy, phanh dài hơn trên đường ướt. Nhiều người bơm căng để "đỡ thủng" nhưng thực tế lốp căng dễ bị cắt rách hơn khi cán vật nhọn.

Lốp mất hơi chậm. Mỗi tuần hụt một ít là dấu hiệu có đinh nhỏ, van rò hoặc mép lốp không kín vành. Thoa nước xà phòng lên mặt lốp, van và mép vành: chỗ nào sủi bọt là chỗ rò.

Đèn cảnh báo áp suất lốp (TPMS). Nhiều ô tô có cảm biến báo khi một lốp thấp hơn ngưỡng. Đèn này sáng là kiểm ngay, nhưng đừng xem nó thay việc đo định kỳ vì ngưỡng báo thường thấp hơn mức chuẩn khá nhiều.

Cách đọc tuổi lốp bằng 4 số DOT

Trên thành lốp có một dãy ký tự bắt đầu bằng DOT, và 4 chữ số cuối là tuần và năm sản xuất. Ví dụ "2324" nghĩa là tuần thứ 23 của năm 2024. Lốp mới mua mà đã sản xuất từ 3–4 năm trước thì nên hỏi đổi lốp khác, vì cao su lão hoá ngay cả khi nằm trong kho.

Cao su cứng dần theo thời gian, mất độ bám, đặc biệt khi phơi nắng nhiều như ở Việt Nam. Nhiều nhà sản xuất khuyến nghị kiểm tra kỹ lốp đã dùng từ 5 năm và thay khi lốp được khoảng 10 năm tuổi kể cả còn gai; trong thực tế nhiều thợ khuyên không nên dùng lốp quá 6 năm, nhất là lốp dự phòng ít dùng. Hãy xem dấu hiệu nứt chân chim ở thành lốp và trong rãnh gai.

Khi mua lốp, đừng chỉ nhìn cỡ (ví dụ 205/55R16) mà còn xem chỉ số tải và chỉ số tốc độ in ngay sau cỡ lốp, ví dụ 91V. Hai chỉ số này phải bằng hoặc cao hơn lốp gốc theo xe. Lắp lốp chỉ số thấp hơn để rẻ là cắt bớt biên an toàn mà bạn không nhìn thấy.

Dấu hiệu phải thay lốp ngay

Kể cả khi lốp chưa đủ tuổi, có những dấu hiệu sau thì không nên tiếc:

  • Gai mòn tới vạch chỉ thị (gờ nhỏ nằm ngang trong rãnh, thường cao 1,6 mm). Hay đi mưa thì nên thay sớm hơn, khi còn khoảng 3 mm, vì lốp mòn thoát nước kém.
  • Phồng rộp hoặc u lồi ở thành lốp: lớp bố bên trong đã đứt sau cú va ổ gà, mép đá. Lốp này có thể nổ bất cứ lúc nào.
  • Vết cắt sâu, lộ sợi bố trên mặt hoặc thành lốp.
  • Lốp đã vá ở thành bên hoặc vá vết thủng quá lớn: thành lốp không vá an toàn được.
  • Mòn lệch một bên rõ rệt: thay lốp và kiểm tra góc đặt bánh xe, nếu không lốp mới sẽ lại mòn y như cũ.
  • Rung lắc tay lái ở một dải tốc độ sau khi đã cân bằng động mà vẫn không hết, có thể lốp đã biến dạng.

Thay hai lốp cùng trục để hai bên mòn như nhau. Nếu chỉ thay hai lốp trên ô tô, nhiều kỹ thuật viên khuyên lắp cặp lốp mới ở trục sau để giữ đuôi xe ổn định khi đường trơn, nhưng hãy làm theo tư vấn của xưởng với từng loại xe.

Lốp xe máy: những điểm khác với lốp ô tô

Xe máy chỉ có hai điểm tiếp xúc với mặt đường, nên một chiếc lốp non hay mòn ảnh hưởng tới thăng bằng nhiều hơn hẳn ô tô. Lốp trước quyết định cảm giác lái và độ bám khi vào cua, lốp sau gánh phần lớn tải và lực kéo. Vì thế bánh sau thường mòn nhanh gấp rưỡi tới gấp đôi bánh trước, đừng ngạc nhiên khi phải thay lốp sau trước.

Xe máy dùng cả lốp có săm và lốp không săm. Lốp không săm khi cán đinh xì hơi từ từ, cho bạn thời gian chạy tới tiệm; lốp có săm dễ xẹp nhanh hơn. Khi thay lốp, giữ đúng cỡ ghi trong sổ, ví dụ 80/90-14 cho bánh trước. Lắp lốp to hơn để trông "hầm hố" có thể chạm chắn bùn, làm sai đồng hồ tốc độ và nặng tay lái.

Mép lốp xe máy hay bị nứt do dựng xe ngoài nắng nhiều năm. Nếu nhìn thấy vết nứt sâu ở thành lốp, kể cả gai còn dày, hãy thay. Vá săm nhiều lần chồng lên nhau cũng làm săm yếu đi, nên khi một chiếc săm đã vá ba bốn miếng thì thay săm mới.

Thói quen lái giúp lốp bền và an toàn hơn

Lốp mòn nhanh nhất vì những thói quen nhỏ lặp lại hằng ngày. Tăng tốc gấp khi đèn xanh, phanh gấp khi tới đèn đỏ và ôm cua nhanh làm mặt lốp bị chà xát mạnh. Lái đều chân ga, nhìn xa để giảm tốc sớm vừa tiết kiệm xăng vừa làm lốp sống lâu hơn đáng kể.

Leo vỉa hè, đâm thẳng vào gờ giảm tốc hay ổ gà ở tốc độ cao là nguyên nhân chính của phồng thành lốp và méo vành. Khi buộc phải lên lề, đi chậm và chéo góc. Đỗ ô tô sát vỉa hè cũng đừng để thành lốp cọ vào mép đá, vì thành lốp là phần mỏng nhất.

Chở quá tải làm lốp nóng và biến dạng, nhất là trên đường dài mùa hè. Trước khi chở nặng, bơm theo mức đầy tải ghi trên tem. Sau mỗi lần va mạnh, dừng lại nhìn thành lốp xem có u lồi không; một cục phồng nhỏ bằng đầu ngón tay đã đủ để thay lốp.

Câu hỏi thường gặp

Bơm lốp bằng khí nitơ có tốt hơn khí thường không?

Nitơ thoát qua cao su chậm hơn một chút và khô hơn, nên áp suất giữ ổn định lâu hơn. Nhưng không khí thường đã có khoảng 78% nitơ, và khác biệt với xe đi phố là nhỏ. Bơm khí gì cũng phải đo áp suất định kỳ.

Lốp không săm bị đinh có chạy tiếp được không?

Nếu đinh còn cắm và lốp chưa xẹp, bạn có thể chạy chậm tới tiệm gần nhất, đừng rút đinh ra giữa đường. Lốp không săm vá bằng nấm từ bên trong là cách bền nhất. Vết thủng gần thành bên hoặc quá to thì nên thay.

Có nên đảo lốp ô tô không, bao lâu một lần?

Nên, khoảng 10.000 km một lần hoặc theo sổ bảo dưỡng. Bánh trước xe dẫn động cầu trước thường mòn nhanh hơn, đảo vị trí giúp bốn lốp mòn đều và kéo dài tuổi thọ cả bộ. Một số lốp có chiều quay riêng thì chỉ đảo trước sau cùng bên.

Xe máy chở hai người có cần bơm lốp sau căng hơn?

Có. Nhiều sổ hướng dẫn xe máy ghi mức riêng cho bánh sau khi chở thêm người, cao hơn mức chở một người. Chở nặng mà lốp sau non sẽ nóng, nhanh mòn và lái chòng chành, nhất là khi đi đường dài.

Lốp dự phòng loại nhỏ chạy được bao xa?

Lốp dự phòng cỡ nhỏ chỉ dùng tạm để tới tiệm, thường có giới hạn tốc độ quanh 80 km/h ghi trên lốp hoặc trong sổ. Không nên đi đường dài hay lên cao tốc chạy nhanh với loại lốp này. Áp suất của nó thường cao hơn lốp chính, kiểm theo ghi chú trên lốp.

Áp suất lốp có thay đổi theo mùa không?

Có, khi trời lạnh áp suất giảm, trời nóng thì tăng, khoảng 0,1 bar với mỗi chênh 10 độ C. Ở miền Bắc mùa đông, lốp có thể đọc non hơn tháng trước dù không rò. Cứ bơm theo mức chuẩn khi lốp nguội ở nhiệt độ hiện tại.

Bài viết liên quan

Có câu hỏi hay góp ý? Viết cho Nhím Lông Xanh

Thấy bài sai, muốn đề xuất chủ đề, hay có điều muốn hỏi? Để lại lời nhắn, Nhím Lông Xanh sẽ trả lời.