Tiếng Anh có vài trăm động từ bất quy tắc, nhưng chỉ khoảng 100 động từ xuất hiện thường xuyên trong giao tiếp, sách báo và bài thi. Thay vì học thuộc theo thứ tự chữ cái, hãy chia chúng theo nhóm có quy luật: nhóm ba dạng giống nhau (cut-cut-cut), nhóm hai dạng sau giống nhau (bring-brought-brought, keep-kept-kept), nhóm đổi nguyên âm i-a-u (sing-sang-sung) và nhóm đuôi -en (take-took-taken). Học theo nhóm nhanh gấp nhiều lần vì nhớ một từ là kéo theo cả chuỗi.
Bài này đưa danh sách khoảng 100 động từ hay dùng nhất, xếp theo nhóm, giải thích các cặp dễ nhầm như lie/lay, rise/raise, fall/feel, và một lịch ôn bằng thẻ để thuộc trong khoảng một tháng. Cột thứ hai là quá khứ đơn (V2), cột thứ ba là quá khứ phân từ (V3) dùng cho thì hoàn thành và câu bị động.
Nhóm 1: ba dạng giống nhau (A-A-A)
Nhóm dễ nhất: nguyên mẫu, V2 và V3 viết y hệt nhau. Phần lớn là từ một âm tiết tận cùng bằng t hoặc d.
| Nguyên mẫu | V2 | V3 | Nghĩa |
|---|---|---|---|
| cut | cut | cut | cắt |
| put | put | put | đặt, để |
| let | let | let | để cho |
| set | set | set | đặt, cài |
| hit | hit | hit | đánh, va |
| hurt | hurt | hurt | làm đau |
| cost | cost | cost | tốn (tiền) |
| shut | shut | shut | đóng |
| spread | spread | spread | lan, phết |
| quit | quit | quit | bỏ, nghỉ |
| burst | burst | burst | nổ, vỡ |
| split | split | split | chia, tách |
| read | read | read | đọc (V2, V3 đọc là /red/) |
Riêng read viết giống nhau nhưng đọc khác: nguyên mẫu là /riːd/, còn V2 và V3 đọc là /red/ như màu đỏ. Khi nói “I read it yesterday”, phải đọc /red/ thì người nghe mới hiểu là quá khứ.
Vì ba dạng giống nhau, cách duy nhất để biết đang dùng thì nào là nhìn chủ ngữ và ngữ cảnh: “She cuts” (hiện tại, có s) khác với “She cut” (quá khứ).
Nhóm 2: V2 và V3 giống nhau (A-B-B)
Đây là nhóm đông nhất. Trong nhóm lại có các “họ” vần giống nhau, học cả họ một lúc.
| Họ vần | Động từ (nguyên mẫu → V2 = V3) |
|---|---|
| -ought / -aught | bring → brought, buy → bought, think → thought, fight → fought, seek → sought, catch → caught, teach → taught |
| d đổi thành t | build → built, send → sent, spend → spent, lend → lent, bend → bent |
| nguyên âm dài thành -ept, -elt, -eft | keep → kept, sleep → slept, sweep → swept, feel → felt, leave → left, meet → met, mean → meant, deal → dealt, lose → lost |
| -ay, -aid | pay → paid, say → said, lay → laid |
| -old, -eld | sell → sold, tell → told, hold → held |
| -ound | find → found, wind (lên dây) → wound |
| -ood | stand → stood, understand → understood |
| đổi nguyên âm thành u | win → won, hang → hung, stick → stuck, dig → dug |
| còn lại | have → had, make → made, sit → sat, get → got, shoot → shot, light → lit, hear → heard, lead → led, feed → fed |
Họ -ought và -aught rất dễ lẫn khi viết: bring, buy, think, fight, seek dùng -ought; catch, teach dùng -aught. Mẹo nhớ: hai động từ có “ch” (catch, teach) đi với “aught”.
Get trong tiếng Anh–Anh có V3 là got, còn tiếng Anh–Mỹ thường dùng gotten: “I’ve got a cold” (Anh), “He’s gotten better” (Mỹ). Cả hai đều đúng tuỳ vùng.
Nhóm 3: ba dạng khác nhau (A-B-C) và nhóm A-B-A
Nhóm này khó nhất nhưng vẫn có các họ quy luật rõ. Đọc to theo hàng ngang, nhịp điệu sẽ giúp bạn nhớ.
| Họ quy luật | Động từ (nguyên mẫu → V2 → V3) |
|---|---|
| i → a → u | begin → began → begun, drink → drank → drunk, sing → sang → sung, ring → rang → rung, swim → swam → swum, sink → sank → sunk |
| -ow / -ew → -own | know → knew → known, grow → grew → grown, throw → threw → thrown, blow → blew → blown, fly → flew → flown, draw → drew → drawn |
| -o- → -oken, -osen, -olen | speak → spoke → spoken, break → broke → broken, wake → woke → woken, choose → chose → chosen, steal → stole → stolen, freeze → froze → frozen, forget → forgot → forgotten |
| V3 thêm -en | take → took → taken, shake → shook → shaken, give → gave → given, forgive → forgave → forgiven, eat → ate → eaten, fall → fell → fallen, see → saw → seen |
| i dài → o → i ngắn + en | write → wrote → written, drive → drove → driven, ride → rode → ridden, rise → rose → risen, hide → hid → hidden, bite → bit → bitten |
| -ore → -orn | wear → wore → worn, tear → tore → torn |
| đặc biệt | be → was/were → been, do → did → done, go → went → gone, lie (nằm) → lay → lain |
| A-B-A (V3 giống nguyên mẫu) | come → came → come, become → became → become, run → ran → run |
Cộng ba bảng lại được khoảng 100 động từ, đủ cho phần lớn câu bạn sẽ gặp. Những động từ còn lại như forbid, forecast, overcome thường ghép từ động từ gốc đã có trong bảng: overcome chia như come, understand chia như stand, forgive chia như give.
V2 dùng ở đâu, V3 dùng ở đâu
V2 chỉ có một việc: làm động từ chính trong câu quá khứ đơn khẳng định, đứng một mình không cần trợ động từ: “She wrote a letter.” Khi đã có did (phủ định, câu hỏi), động từ quay về nguyên mẫu: “Did she write?”, không phải “Did she wrote?”.
V3 luôn cần một trợ động từ hoặc đứng như tính từ. Đi với have/has/had trong các thì hoàn thành (“She has written three books”), đi với be trong câu bị động (“The letter was written in English”), hoặc đứng trước danh từ như một tính từ: a broken window, frozen food, a well-known singer, spoken English. Không bao giờ dùng V3 đứng trơ làm động từ chính.
Hai lỗi hay gặp nhất vì thế là dùng V2 sau have (“I have went”, “She has ate”) và dùng V3 không có trợ động từ (“I seen it”, “He done it”). Câu thứ hai còn gặp trong tiếng Anh bình dân ở một số vùng, nhưng bị coi là sai trong văn chuẩn và bài thi. Khi soát bài, cứ thấy have, has, had, be thì kiểm động từ phía sau có phải V3 không; thấy động từ quá khứ đứng một mình thì kiểm có phải V2 không.
Các cặp dễ nhầm: lie và lay, rise và raise
Lie (nằm) – lay – lain, V-ing là lying. Nội động từ, không có tân ngữ: “I lay on the sofa all afternoon yesterday.” Chú ý V2 của lie trùng với nguyên mẫu của lay, đây là gốc rễ của mọi sự nhầm lẫn.
Lay (đặt, đẻ trứng) – laid – laid. Ngoại động từ, luôn cần tân ngữ: “She laid the baby on the bed.” “Our hens laid five eggs today.” Nếu sau động từ có một vật bị đặt xuống, đó là lay.
Lie (nói dối) – lied – lied. Đây lại là động từ có quy tắc: “He lied about his age.” Cùng chữ lie nhưng nghĩa khác thì cách chia cũng khác hẳn.
Rise – rose – risen và raise – raised – raised. Rise là tự tăng lên, không có tân ngữ: “Prices rose sharply.” “The sun rises in the east.” Raise là nâng một cái gì đó lên, cần tân ngữ: “Raise your hand.” “They raised the price.” Trong bài viết mô tả biểu đồ, người học hay viết “prices raised” là sai.
Fall – fell – fallen và feel – felt – felt. “I fell off my bike” (ngã) khác “I felt tired” (cảm thấy). Hai từ đọc gần giống nhau nên khi nói nhanh dễ lẫn; luyện đọc to cả cặp.
Find – found – found và found – founded – founded. Found ngoài là V2 của find còn là một động từ riêng có quy tắc, nghĩa là thành lập: “The company was founded in 1995.” Không viết “was found in 1995” khi muốn nói thành lập.
Lịch học thuộc bằng thẻ trong 4 tuần
Cách hiệu quả nhất là kết hợp học theo nhóm với tự kiểm tra và ôn ngắt quãng. Làm theo lịch dưới đây, mỗi ngày khoảng 15 phút.
- Làm thẻ: mặt trước ghi nguyên mẫu và nghĩa, mặt sau ghi V2, V3 và một câu ví dụ ngắn có dùng V2 hoặc V3. Có thể dùng thẻ giấy hoặc ứng dụng thẻ ghi nhớ có lặp lại ngắt quãng.
- Tuần 1: học nhóm A-A-A và họ -ought, -ept trong nhóm A-B-B. Mỗi ngày học mới 6 đến 8 từ, đọc to ba dạng theo nhịp “bring, brought, brought”.
- Tuần 2: học nốt nhóm A-B-B và họ i-a-u, -own của nhóm A-B-C. Đầu mỗi buổi, rút ngẫu nhiên 10 thẻ cũ, nhìn mặt trước và nói to mặt sau trước khi lật.
- Tuần 3: học phần còn lại của nhóm A-B-C và các cặp dễ nhầm. Thẻ nào trả lời sai thì để riêng một chồng, ôn lại vào ngày hôm sau.
- Tuần 4: không học từ mới, chỉ ôn. Mỗi ngày viết 10 câu kể chuyện hôm qua bằng quá khứ đơn và 5 câu bằng hiện tại hoàn thành, dùng càng nhiều động từ bất quy tắc càng tốt.
- Sau tháng đầu: ôn lại toàn bộ vào cuối tuần thứ 6 và tuần thứ 10. Thẻ nào đã đúng ba lần liên tiếp thì giãn khoảng ôn ra.
Đừng chỉ đọc bảng thụ động. Phải che cột V2, V3 đi và tự nói ra, vì việc cố nhớ lại mới là thứ giúp ghi nhớ bền. Một cách kiểm tra mình đã thuộc thật hay chưa: nghe một người đọc ngẫu nhiên 20 nguyên mẫu, trả lời V2, V3 trong vòng hai giây mỗi từ.
Câu hỏi thường gặp
Có cần học hết vài trăm động từ bất quy tắc không?
Không cần. Khoảng 100 động từ trong bảng bao phủ phần lớn những gì gặp hằng ngày. Những từ hiếm như smite, slay hay tread chủ yếu gặp trong văn chương, gặp đâu học đó là đủ.
Động từ bất quy tắc có dạng -ing khác thường không?
Dạng V-ing của chúng theo quy tắc chung: going, taking (bỏ e câm), swimming, running, sitting (nhân đôi phụ âm cuối), lying, dying (đổi ie thành y). Chỉ V2 và V3 là bất quy tắc, nên không cần học thêm gì cho dạng -ing.
Learnt và learned, cái nào đúng?
Cả hai đều đúng. Tiếng Anh–Anh hay dùng learnt, dreamt, burnt, spelt; tiếng Anh–Mỹ hay dùng learned, dreamed, burned, spelled. Chọn một kiểu và giữ nhất quán trong cùng bài viết.
Vì sao tiếng Anh có động từ bất quy tắc?
Phần lớn là dấu vết từ tiếng Anh cổ, khi động từ đổi nguyên âm để chỉ quá khứ. Theo thời gian, nhiều động từ chuyển sang thêm -ed, còn những từ dùng thường xuyên nhất giữ lại dạng cũ vì được nhắc tới quá nhiều.
Làm sao biết V3 của một động từ mới gặp?
Tra từ điển uy tín như Cambridge hay Oxford: mục từ sẽ ghi các dạng nếu động từ bất quy tắc. Nếu từ điển không ghi gì đặc biệt, động từ đó theo quy tắc thêm -ed.
Hay quên V3 khi nói, phải làm sao?
Luyện các câu khung có sẵn V3: “Have you ever…?”, “I’ve never…”, “It was made in…”. Mỗi ngày thay động từ khác vào khung và nói to. Sau một thời gian, V3 bật ra cùng cả khung câu chứ không phải nhớ từng từ riêng lẻ.