Khi người mất không để lại di chúc, di sản được chia theo pháp luật, cho ba hàng thừa kế tại Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015. Hàng thứ nhất gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Những người cùng hàng hưởng phần bằng nhau; hàng sau chỉ được hưởng khi hàng trước không còn ai, do đã chết, không có quyền hưởng, bị truất quyền hoặc từ chối nhận.
Con của người để lại di sản mà đã mất trước thì cháu được hưởng phần của cha hoặc mẹ mình (thừa kế thế vị). Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm với bất động sản và 10 năm với động sản, tính từ thời điểm người để lại di sản qua đời.
Phần dưới đi qua cách xác định di sản, ba hàng thừa kế, ví dụ cách chia, các trường hợp đặc biệt và các bước khai nhận. Gia đình có tranh chấp hoặc nhiều người thừa kế ở xa nên có luật sư hay công chứng viên tư vấn trước khi ký văn bản.
Khi nào di sản chia theo pháp luật
Không chỉ trường hợp không có di chúc. Theo Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015, thừa kế theo pháp luật được áp dụng khi:
- Người mất không để lại di chúc.
- Di chúc không hợp pháp, ví dụ sai hình thức, người lập không minh mẫn khi lập.
- Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
- Người được chỉ định trong di chúc không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận.
- Phần di sản không được định đoạt trong di chúc, ví dụ di chúc chỉ nói về căn nhà mà không nhắc tới sổ tiết kiệm.
- Phần di sản liên quan tới phần di chúc không có hiệu lực, hoặc liên quan tới người thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng, từ chối nhận, chết trước người lập.
Vì vậy một gia đình có di chúc vẫn có thể phải chia một phần theo pháp luật. Trước khi chia, nên đọc kỹ di chúc để xác định phần nào đã được định đoạt, phần nào còn lại.
Bước đầu tiên: xác định đúng di sản
Di sản gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Lỗi phổ biến nhất là đem toàn bộ tài sản của hai vợ chồng ra chia. Theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014, khi một bên vợ hoặc chồng chết, tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi (trừ khi có thoả thuận về chế độ tài sản khác); chỉ một nửa thuộc người chết mới là di sản, nửa còn lại vẫn là tài sản của người còn sống.
Tài sản riêng gồm tài sản có trước hôn nhân, được thừa kế riêng, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân, hoặc đã được thoả thuận chia riêng. Với tài sản góp chung với anh em, bạn bè như mua chung mảnh đất, chỉ phần góp của người chết là di sản.
Trước khi chia cho người thừa kế, di sản còn phải dùng để thanh toán các nghĩa vụ theo thứ tự luật định: chi phí hợp lý cho việc mai táng, tiền cấp dưỡng còn thiếu, chi phí bảo quản di sản, các khoản nợ của người chết, tiền phạt, bồi thường… Người thừa kế chỉ phải trả nợ của người mất trong phạm vi di sản nhận được, không phải lấy tài sản riêng của mình để trả.
Lập một danh sách gồm: nhà đất (số giấy chứng nhận, ai đứng tên), tài khoản, sổ tiết kiệm, xe, cổ phần, vàng, tiền cho người khác vay, và cả các khoản nợ. Danh sách này dùng cho cả việc thoả thuận trong gia đình lẫn thủ tục khai nhận.
Ba hàng thừa kế theo Điều 651
Bảng dưới liệt kê đầy đủ ba hàng. Người ở hàng sau chỉ được hưởng khi không còn ai ở hàng trước:
| Hàng | Gồm những ai | Lưu ý |
|---|---|---|
| Thứ nhất | Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết | Con trong và ngoài giá thú như nhau; con gái và con trai như nhau; con đã lập gia đình vẫn được hưởng |
| Thứ hai | Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông, bà nội ngoại | Chỉ hưởng khi hàng thứ nhất không còn ai |
| Thứ ba | Cụ nội, cụ ngoại; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột mà người chết là bác, chú, cậu, cô, dì; chắt ruột mà người chết là cụ nội, cụ ngoại | Chỉ hưởng khi hai hàng trước không còn ai |
Con dâu, con rể, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng không nằm trong các hàng thừa kế theo pháp luật của nhau. Một người con dâu chăm sóc mẹ chồng nhiều năm vẫn không tự động được hưởng di sản, trừ khi có di chúc hoặc được những người thừa kế thoả thuận chia cho.
Chia đều trong cùng hàng: một ví dụ có số
Giả sử ông Bình qua đời, không để lại di chúc. Vợ chồng ông có căn nhà là tài sản chung trị giá 4 tỷ đồng, ông có thêm sổ tiết kiệm riêng 600 triệu đồng. Ông có ba người con, mẹ ông còn sống, bố ông đã mất trước.
Bước một, tách tài sản chung: căn nhà chia đôi, phần của ông Bình là 2 tỷ đồng, phần còn lại 2 tỷ là của bà vợ. Di sản của ông Bình = 2 tỷ (phần nhà) + 600 triệu (sổ tiết kiệm) = 2,6 tỷ đồng (giả định đã thanh toán xong chi phí mai táng và không có nợ).
Bước hai, xác định hàng thừa kế thứ nhất: vợ, ba con và mẹ của ông Bình, tổng cộng 5 người. Bước ba, chia đều: mỗi người được 520 triệu đồng giá trị di sản. Bà vợ vì vậy có tổng cộng 2 tỷ phần của mình cộng 520 triệu thừa kế.
Nếu sau này mẹ ông Bình mất, phần 520 triệu bà đã nhận trở thành di sản của bà và được chia tiếp cho những người thừa kế của bà. Chia trên giấy là vậy, còn thực tế gia đình hay thoả thuận để một người nhận nhà và trả tiền chênh lệch cho người khác, hoặc những người khác từ chối nhận để dồn cho một người; các thoả thuận này hợp pháp nếu tự nguyện và lập thành văn bản đúng thủ tục.
Thừa kế thế vị và các trường hợp đặc biệt
Thừa kế thế vị (Điều 652). Con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu lẽ ra được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng đã chết trước thì chắt được hưởng. Trong ví dụ trên, nếu một người con của ông Bình đã mất trước ông và có hai con, hai cháu này cùng chia phần 520 triệu của cha mẹ mình.
Con nuôi, con riêng. Con nuôi được nhận nuôi hợp pháp và cha mẹ nuôi thừa kế của nhau như con đẻ. Con riêng và bố dượng, mẹ kế chỉ thừa kế của nhau nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con (Điều 654), và việc này phải chứng minh được.
Vợ chồng đang ly hôn. Nếu vợ chồng chưa được toà án cho ly hôn hoặc đã cho ly hôn nhưng bản án, quyết định chưa có hiệu lực mà một người chết, người còn sống vẫn được thừa kế (Điều 655). Vợ chồng đã ly hôn xong thì không còn quyền thừa kế của nhau.
Con đã thành thai. Người thừa kế phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế, hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm đó nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Đứa trẻ sinh sau khi cha mất vẫn được hưởng.
Người không có quyền hưởng (Điều 621). Ví dụ người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, hoặc ngược đãi nghiêm trọng người để lại di sản; người lừa dối, cưỡng ép trong việc lập di chúc. Họ vẫn được hưởng nếu người để lại di sản biết hành vi đó mà vẫn cho hưởng theo di chúc.
Từ chối nhận di sản (Điều 620). Người thừa kế có quyền từ chối, nhưng phải lập văn bản, gửi cho những người thừa kế khác hoặc người quản lý di sản trước thời điểm phân chia, và không được dùng việc từ chối để trốn tránh nghĩa vụ tài sản của mình với người khác.
Thời hiệu: 30 năm với nhà đất, 10 năm với động sản
Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế (ngày người để lại di sản chết). Hết thời hạn này, di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản; nếu không có người thừa kế nào quản lý thì xử lý theo quy định về xác lập quyền sở hữu.
Hai mốc khác cần biết: thời hiệu để yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm; thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại (như trả nợ) là 3 năm, cùng tính từ thời điểm mở thừa kế.
Thực tế có nhiều gia đình để nhà đất đứng tên ông bà đã mất hàng chục năm. Dù thời hiệu còn dài, càng để lâu càng khó: người thừa kế tiếp tục qua đời, phát sinh thêm nhiều lớp thừa kế, người ở nước ngoài khó liên lạc, giấy tờ thất lạc. Làm thủ tục sớm khi các thành viên còn đủ và còn đồng thuận là cách đỡ tốn kém nhất.
Thủ tục khai nhận và thoả thuận phân chia di sản
Nếu các người thừa kế thống nhất được với nhau, thủ tục làm tại tổ chức hành nghề công chứng nơi có bất động sản, theo trình tự chung sau. Giấy tờ và trình tự cụ thể có thể thay đổi theo Luật Công chứng 2024 và văn bản hướng dẫn:
- Chuẩn bị giấy tờ: giấy chứng tử của người để lại di sản; giấy tờ chứng minh quan hệ thừa kế (giấy khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn, giấy tờ nhận nuôi con nuôi); giấy chứng tử của những người thừa kế đã mất (để xác định thế vị); giấy tờ về di sản như giấy chứng nhận nhà đất, sổ tiết kiệm, đăng ký xe; căn cước của tất cả người thừa kế.
- Các người thừa kế thống nhất cách chia: chia theo phần bằng nhau, một người nhận và thanh toán cho người khác, hay có người từ chối nhận.
- Tổ chức công chứng tiếp nhận hồ sơ và niêm yết việc thụ lý văn bản khai nhận hoặc thoả thuận phân chia di sản tại uỷ ban nhân dân cấp xã nơi thường trú cuối cùng của người để lại di sản trong thời hạn luật định, để ai có quyền lợi liên quan biết và khiếu nại nếu có.
- Hết thời hạn niêm yết không có khiếu nại, tất cả người thừa kế (hoặc người được uỷ quyền) ký văn bản trước công chứng viên.
- Mang văn bản đã công chứng đi kê khai thuế, lệ phí (thừa kế giữa một số quan hệ gần như vợ chồng, cha mẹ con, anh chị em ruột thường được miễn thuế thu nhập cá nhân theo quy định hiện hành) và nộp hồ sơ đăng ký biến động tại văn phòng đăng ký đất đai để sang tên.
Nếu có người thừa kế không đồng ý, không ký, hoặc tranh chấp về việc ai được hưởng, thủ tục tại công chứng không làm được. Khi đó, người thừa kế có quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản tại toà án nơi có bất động sản; trước khi kiện, nên thử hoà giải trong gia đình, dòng họ hoặc ở tổ hoà giải cơ sở.
Câu hỏi thường gặp
Con gái đã lấy chồng có được chia thừa kế không?
Có. Con đẻ, con nuôi đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất, không phân biệt con trai hay con gái, đã lập gia đình hay chưa, sống cùng hay ở xa. Phong tục để lại đất cho con trai không làm mất quyền của con gái theo pháp luật.
Anh chị em ruột có được hưởng thừa kế khi người mất còn vợ con không?
Không. Anh chị em ruột thuộc hàng thứ hai, chỉ được hưởng khi hàng thứ nhất không còn ai, tức người mất không còn vợ hoặc chồng, con, cha mẹ, hoặc những người này đều từ chối, không có quyền hưởng.
Một người thừa kế ở nước ngoài thì làm thủ tục thế nào?
Người đó có thể về ký trực tiếp, hoặc lập văn bản uỷ quyền hay văn bản từ chối nhận di sản tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại, hoặc tại cơ quan có thẩm quyền nước ngoài rồi hợp pháp hoá lãnh sự. Nên hỏi trước tổ chức công chứng tại Việt Nam về yêu cầu giấy tờ.
Nhà đất đứng tên ông bà đã mất, cháu muốn làm sổ thì sao?
Phải xác định lần lượt di sản của ông, của bà, những người thừa kế ở từng thời điểm, cả thế vị nếu có. Tất cả những người thừa kế còn sống cần cùng khai nhận hoặc thoả thuận phân chia, sau đó mới sang tên cho người được nhận.
Một người chiếm giữ toàn bộ nhà đất thừa kế, không cho chia thì làm sao?
Những người thừa kế khác có quyền yêu cầu chia di sản trong thời hiệu 30 năm với bất động sản. Nếu thương lượng và hoà giải không thành, họ khởi kiện tại toà án nơi có bất động sản để toà xác định di sản, người thừa kế và cách chia.
Người thừa kế có phải trả nợ thay người đã mất không?
Người thừa kế chỉ thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết trong phạm vi di sản được nhận, không phải dùng tài sản riêng để trả. Nếu di sản không đủ trả nợ, phần nợ còn lại không chuyển sang người thừa kế.