Lãi suất cho vay tối đa giữa các cá nhân, hoặc giữa cá nhân với tổ chức không phải tổ chức tín dụng, là 20%/năm trên khoản tiền vay, theo khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015. Nếu thoả thuận vượt mức này, phần vượt không có hiệu lực: người vay chỉ phải trả lãi trong phạm vi 20%/năm, khoản gốc vẫn phải trả đầy đủ.
Quy ra tháng, 20%/năm tương đương khoảng 1,67%/tháng; quy ra ngày, khoảng 548 đồng cho mỗi một triệu đồng vay. Những lời mời “lãi chỉ 1.000 đồng một triệu một ngày” nghe nhỏ nhưng thật ra là 36,5%/năm, đã vượt gần gấp đôi mức trần.
Bài này giải thích cách đọc Điều 468, cách quy đổi các kiểu lãi phổ biến ra năm để tự kiểm tra, lãi khi không ghi mức cụ thể và lãi chậm trả. Khoản vay từ ngân hàng, công ty tài chính chịu điều chỉnh riêng của pháp luật về các tổ chức tín dụng, không áp dụng mức trần này theo cùng cách.
Điều 468 nói gì và áp dụng cho ai
Khoản 1 Điều 468 quy định: lãi suất vay do các bên thoả thuận; trường hợp có thoả thuận thì lãi suất không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có thể điều chỉnh mức này; đến nay mức 20%/năm vẫn đang được áp dụng, nhưng bạn nên kiểm tra văn bản mới khi ký khoản vay lớn.
Mức trần áp dụng cho các khoản vay dân sự thông thường: người quen cho nhau vay, cá nhân cho cá nhân vay có lãi, doanh nghiệp không phải tổ chức tín dụng cho cá nhân vay. Hợp đồng vay với ngân hàng, công ty tài chính, quỹ tín dụng được điều chỉnh bởi Luật Các tổ chức tín dụng và quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Lãi suất tính trên khoản tiền vay, tức số tiền gốc bên vay thực nhận. Các thủ thuật như ghi vay 10 triệu nhưng chỉ đưa 8 triệu (cắt lãi trước), hay thu “phí hồ sơ”, “phí thẩm định” để lách trần đều có thể bị toà xem xét như một phần tiền lãi khi giải quyết tranh chấp.
Với khoản vay ngắn hạn, tính tiền lãi tối đa theo công thức: tiền gốc × 20% × số tháng vay ÷ 12. Vay 50 triệu đồng trong 3 tháng thì tiền lãi tối đa hợp pháp là 50 triệu × 20% × 3 ÷ 12 = 2,5 triệu đồng. Vay 30 triệu trong 45 ngày thì lãi tối đa khoảng 30 triệu × 20% × 45 ÷ 365, xấp xỉ 740 nghìn đồng. Con số này giúp bạn nhìn ngay ra một lời đề nghị có vượt trần hay không mà không cần quy đổi phức tạp.
Quy đổi các kiểu lãi phổ biến ra lãi năm
Người cho vay thường nói lãi theo tháng hoặc theo ngày cho số nghe nhỏ. Bảng dưới quy đổi đơn giản (lãi đơn, chưa tính gốc giảm dần) để bạn tự so với mức 20%/năm:
| Cách nói thường gặp | Quy ra lãi năm | So với trần 20%/năm |
|---|---|---|
| 1%/tháng | 12%/năm | Trong trần |
| 1,5%/tháng | 18%/năm | Trong trần |
| 2%/tháng | 24%/năm | Vượt |
| 3%/tháng | 36%/năm | Vượt |
| 500 đồng/1 triệu/ngày | khoảng 18,25%/năm | Trong trần |
| 1.000 đồng/1 triệu/ngày | khoảng 36,5%/năm | Vượt gần gấp đôi |
| 3.000 đồng/1 triệu/ngày | khoảng 109,5%/năm | Vượt hơn 5 lần |
| 5.000 đồng/1 triệu/ngày | khoảng 182,5%/năm | Vượt hơn 9 lần |
Công thức tự tính: lãi năm (%) = lãi tháng (%) × 12; hoặc lãi năm (%) = (tiền lãi một ngày ÷ tiền gốc) × 365 × 100. Ví dụ vay 10 triệu, mỗi ngày trả lãi 30.000 đồng: 30.000 ÷ 10 triệu = 0,3%/ngày, nhân 365 ra 109,5%/năm.
Với kiểu vay góp ngày như vay 10 triệu, mỗi ngày góp 120.000 đồng trong 100 ngày, tổng trả 12 triệu: tính đơn giản trên gốc ban đầu, tiền lãi 2 triệu cho 100 ngày tương đương khoảng 73%/năm. Vì số gốc bạn còn giữ giảm dần mỗi ngày, lãi suất thực tế còn cao hơn đáng kể.
Thoả thuận vượt trần thì xử lý thế nào
Điều 468 nói rõ: lãi suất thoả thuận vượt quá giới hạn thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực. Hợp đồng vay không vì thế mà vô hiệu toàn bộ; khoản gốc vẫn phải trả, phần lãi trong phạm vi 20%/năm vẫn được tính.
Ví dụ: vay 100 triệu, thoả thuận lãi 3%/tháng (36%/năm) trong 12 tháng. Nếu có tranh chấp, toà chỉ chấp nhận lãi tối đa 20%/năm, tức 20 triệu cho một năm. Nếu người vay đã trả 36 triệu tiền lãi, phần đã trả vượt 16 triệu được xử lý theo hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao (Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP): số lãi đã trả vượt mức được trừ vào nợ gốc tại thời điểm trả; nếu đã trừ hết nợ gốc mà vẫn còn, phần còn lại được trả lại cho người vay.
Vì vậy, người đi vay với lãi cao đừng nghĩ mình mắc kẹt: hãy giữ lại tất cả chứng từ trả lãi (chuyển khoản, biên nhận, tin nhắn xác nhận) để có căn cứ yêu cầu tính lại. Người cho vay thì nên hiểu rằng thoả thuận lãi cao trên giấy không đem lại lợi ích pháp lý, còn tạo rủi ro bị xử lý.
Không ghi mức lãi, chậm trả thì tính lãi ra sao
Có thoả thuận trả lãi nhưng không ghi mức cụ thể. Khoản 2 Điều 468: nếu các bên có thoả thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp, lãi suất được xác định bằng 50% mức giới hạn, tức 10%/năm, tại thời điểm trả nợ.
Không thoả thuận gì về lãi. Đây là vay không có lãi; người vay chỉ phải trả gốc khi đến hạn.
Vay không lãi mà quá hạn không trả. Bên cho vay có quyền yêu cầu tiền lãi trên số tiền chậm trả theo mức 10%/năm tương ứng với thời gian chậm trả, trừ khi có thoả thuận khác hoặc luật quy định khác (Điều 466).
Vay có lãi mà quá hạn không trả. Người vay phải trả lãi trên nợ gốc theo lãi suất thoả thuận tương ứng thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; lãi trên nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ khi có thoả thuận khác. Với tiền lãi đến hạn mà chưa trả, có thể bị tính thêm lãi theo mức 10%/năm.
Lãi chồng lãi. Thoả thuận nhập tiền lãi vào gốc để tính lãi tiếp chỉ có thể xem xét trong khuôn khổ trên. Mọi cách tính dẫn tới tổng lãi vượt mức luật cho phép đều có nguy cơ không được toà công nhận phần vượt.
Khi nào cho vay lãi cao bị xử lý hình sự
Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi năm 2017) có tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự tại Điều 201. Dấu hiệu cơ bản là cho vay với lãi suất gấp 5 lần trở lên mức cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, tức từ 100%/năm trở lên, kèm điều kiện về số tiền thu lợi bất chính hoặc người cho vay đã từng bị xử phạt hành chính, kết án về hành vi này. Mức lãi kiểu 3.000 đồng một triệu một ngày (khoảng 109,5%/năm) đã thuộc vùng này.
Dưới ngưỡng hình sự, việc cho vay vượt trần vẫn có thể bị xử phạt hành chính tuỳ quy định hiện hành, và chắc chắn bị toà loại bỏ phần lãi vượt. Ngoài ra, hoạt động cho vay thường xuyên, có tổ chức như một nghề mà không có giấy phép còn có thể vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng.
Nếu bạn là người vay và đang bị đòi lãi nặng, kèm đe doạ, hãy giữ toàn bộ chứng cứ (hợp đồng, sổ góp, tin nhắn, ghi âm) và trình báo cơ quan công an nơi cư trú. Không nên tiếp tục vay chỗ khác để đắp vào; vòng xoáy này là cách nợ phình ra nhanh nhất.
Trước khi ký vay: tự kiểm tra trong ba phút
Dù là người cho vay hay người đi vay, chạy qua các bước sau trước khi đặt bút:
- Hỏi rõ số tiền thực nhận, không phải số tiền ghi trên giấy. Nếu bị cắt trước một khoản, tính lãi trên số thực nhận.
- Cộng tất cả các khoản phải trả ngoài gốc: lãi, phí hồ sơ, phí bảo hiểm, phí quản lý. Đó mới là chi phí vay thật.
- Quy toàn bộ chi phí ra lãi năm bằng công thức ở bảng trên. Vượt 20%/năm với khoản vay giữa cá nhân là dấu hiệu sai luật.
- Đọc điều khoản phạt chậm trả. Phạt theo ngày với mức cao, cộng dồn không giới hạn là điểm cần đề nghị sửa.
- Đảm bảo giấy vay ghi lãi suất theo năm, hoặc ghi song song theo tháng và theo năm, để không còn chỗ hiểu nhầm.
Với vay qua ứng dụng hay dịch vụ tài chính trực tuyến, kiểm tra đơn vị cho vay có giấy phép hoạt động hay không qua thông tin công bố của Ngân hàng Nhà nước trước khi cung cấp dữ liệu cá nhân và danh bạ.
Câu hỏi thường gặp
Lãi suất 2%/tháng có phạm luật không?
Quy ra năm là 24%, vượt mức 20%/năm của Bộ luật Dân sự 2015 đối với vay giữa cá nhân. Thoả thuận không làm hợp đồng vô hiệu, nhưng nếu có tranh chấp thì phần lãi vượt 20%/năm không được toà công nhận.
Mức trần 20%/năm có áp dụng cho ngân hàng không?
Không theo cùng cách. Lãi suất cho vay của ngân hàng, công ty tài chính do pháp luật về các tổ chức tín dụng và Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh. Mức 20%/năm của Bộ luật Dân sự chủ yếu áp dụng cho các khoản vay dân sự thông thường.
Đã lỡ trả lãi vượt mức thì có đòi lại được không?
Có thể. Khi giải quyết tranh chấp, phần lãi đã trả vượt mức được trừ vào nợ gốc; nếu đã trừ hết gốc mà còn dư thì được trả lại cho người vay. Bạn cần chứng minh các lần đã trả bằng sao kê, biên nhận hoặc tin nhắn xác nhận.
Vay vàng thì tính lãi thế nào?
Vay tài sản không phải tiền vẫn có thể có lãi, nhưng nên quy giá trị ra tiền tại thời điểm vay để đối chiếu mức trần. Ghi rõ loại vàng, trọng lượng và việc trả bằng vàng hay bằng tiền để tránh tranh chấp khi giá vàng biến động.
Họ, hụi có bị giới hạn lãi suất không?
Họ, hụi được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự và nghị định riêng về họ, hụi, biêu, phường. Mức lãi trong dây hụi có lãi cũng không được vượt giới hạn theo quy định pháp luật dân sự. Tham gia dây hụi nên có sổ ghi chép rõ ràng, chữ ký các thành viên.
Có nên ghi lãi suất bằng 0 cho đơn giản rồi thoả thuận miệng không?
Không nên. Nếu có tranh chấp, thoả thuận miệng về lãi rất khó chứng minh, và người cho vay coi như chỉ đòi được gốc. Ghi đúng mức lãi thật, trong phạm vi luật cho phép, là cách bảo vệ cả hai bên.