Một bản di chúc hợp pháp theo Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 phải đáp ứng đủ: người lập minh mẫn, sáng suốt khi lập; tự nguyện, không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép; nội dung không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; và hình thức đúng quy định. Thiếu một trong bốn điều kiện, di chúc có thể bị tuyên vô hiệu toàn bộ hoặc một phần, và di sản sẽ chia theo pháp luật.
Di chúc không bắt buộc phải công chứng. Bản tự tay viết và ký, không cần ai làm chứng, vẫn hợp pháp nếu đủ điều kiện. Bản đánh máy hoặc nhờ người viết hộ thì cần ít nhất hai người làm chứng. Công chứng hay chứng thực giúp di chúc khó bị tranh cãi nhất. Di chúc miệng chỉ được dùng khi tính mạng bị đe doạ, kèm điều kiện chặt chẽ.
Bài viết giải thích từng loại, cách viết di chúc tay cho khỏi bị bác, những ai không được làm chứng. Nội dung mang tính phổ thông; tài sản lớn hoặc gia đình có khả năng tranh chấp nên nhờ công chứng viên hay luật sư tư vấn trực tiếp.
Bốn điều kiện để di chúc có hiệu lực
Người lập minh mẫn, sáng suốt. Người lập phải nhận thức được mình đang làm gì vào đúng thời điểm lập. Người cao tuổi, đang bệnh nặng hay dùng thuốc ảnh hưởng tri giác dễ bị người thừa kế khác khởi kiện cho rằng không minh mẫn. Với các trường hợp này, nên lập di chúc tại tổ chức công chứng, nơi công chứng viên ghi nhận tình trạng của người lập, và có thể kèm giấy xác nhận sức khoẻ tinh thần của cơ sở y tế cùng thời điểm.
Tự nguyện hoàn toàn. Di chúc lập dưới áp lực của con cháu, do bị lừa về tình trạng tài sản hay bị doạ nạt đều không hợp pháp. Việc chứng minh bị ép buộc thường khó, nhưng nếu người được hưởng lợi nhiều nhất cũng là người soạn sẵn nội dung và có mặt suốt quá trình, đó là điểm dễ bị nghi ngờ.
Nội dung hợp pháp. Chỉ định đoạt tài sản thuộc quyền của mình. Một người không thể để lại cả căn nhà chung của hai vợ chồng, mà chỉ phần thuộc về mình. Không được đặt điều kiện trái đạo đức hay trái luật cho người hưởng.
Hình thức đúng luật. Di chúc phải lập thành văn bản; chỉ khi không thể lập văn bản mới được di chúc miệng. Mỗi loại văn bản có yêu cầu riêng về chữ ký, người làm chứng, công chứng, trình bày ở phần dưới.
Riêng người chưa thành niên và người có hạn chế. Người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi được lập di chúc bằng văn bản nếu cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc. Người bị hạn chế về thể chất hoặc người không biết chữ thì di chúc phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
So sánh các loại di chúc
Bộ luật Dân sự 2015 cho phép nhiều hình thức. Mỗi hình thức có ưu nhược riêng:
| Loại di chúc | Yêu cầu chính | Ưu điểm | Điểm yếu |
|---|---|---|---|
| Văn bản tự viết, không người làm chứng | Người lập tự tay viết toàn bộ và ký | Riêng tư, không tốn phí, làm được ngay | Dễ bị nghi chữ viết, minh mẫn; dễ thất lạc |
| Văn bản có người làm chứng | Ít nhất hai người làm chứng; người lập ký hoặc điểm chỉ trước mặt họ; họ ký xác nhận | Dùng được khi không tự viết được, có thể đánh máy | Người làm chứng phải đủ điều kiện, dễ bị bác nếu chọn sai người |
| Văn bản có công chứng | Lập tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc công chứng viên đến tận nơi | Khó bị tranh chấp nhất, có thể gửi giữ | Có phí, phải xuất trình giấy tờ |
| Văn bản có chứng thực | Chứng thực tại uỷ ban nhân dân cấp xã | Gần nơi ở, chi phí thấp | Phạm vi và thủ tục theo quy định chứng thực hiện hành |
| Di chúc miệng | Chỉ khi tính mạng bị đe doạ, có hai người làm chứng, ghi chép và chứng nhận trong 5 ngày làm việc | Cách duy nhất khi không thể viết | Điều kiện rất chặt, tự huỷ sau 3 tháng nếu người lập còn sống, minh mẫn |
Nếu điều kiện cho phép, công chứng là lựa chọn an toàn nhất, nhất là khi người lập lớn tuổi, tài sản là nhà đất, hoặc muốn chia không đều cho các con. Di chúc tay hợp pháp không thua kém về giá trị pháp lý, nhưng gánh nặng chứng minh khi có tranh chấp nặng hơn nhiều.
Viết di chúc tay thế nào cho khỏi bị bác
Di chúc tự viết không có người làm chứng chỉ hợp pháp khi người lập tự tay viết và ký. Thêm những điều sau theo Điều 631 về nội dung của di chúc:
- Viết toàn bộ bằng tay, cùng một loại bút, không đánh máy rồi ký. Một đoạn đánh máy chen vào đủ làm bản di chúc mất hình thức “tự viết”.
- Ghi rõ ngày, tháng, năm lập di chúc và nơi lập. Ngày lập là căn cứ để xác định bản nào là bản sau cùng, và tình trạng minh mẫn của người lập.
- Ghi họ tên, năm sinh, số căn cước, nơi cư trú của người lập.
- Ghi họ tên, năm sinh, số căn cước của từng người được hưởng, hoặc tên cơ quan, tổ chức được hưởng.
- Liệt kê di sản và nơi có di sản: nhà đất (địa chỉ, số giấy chứng nhận), sổ tiết kiệm (ngân hàng, số sổ), xe (biển số), vàng. Ghi rõ ai nhận phần nào, tỷ lệ bao nhiêu.
- Có thể chỉ định người quản lý di sản, người phân chia di sản, và giao nghĩa vụ cho người hưởng (như lo thờ cúng hoặc trả một khoản nợ).
- Không viết tắt, không dùng ký hiệu. Di chúc nhiều trang thì đánh số từng trang và ký hoặc điểm chỉ từng trang. Có chỗ tẩy xoá, sửa chữa thì người lập ký bên cạnh chỗ sửa.
- Ký và ghi rõ họ tên ở cuối. Cất ở nơi an toàn và cho ít nhất một người tin cậy biết vị trí, hoặc gửi giữ tại tổ chức công chứng.
Nên quay một đoạn video ngắn lúc đang viết và ký, nói rõ ngày lập và ý chí của mình. Video không thay thế di chúc, nhưng là chứng cứ hỗ trợ về sự minh mẫn và tự nguyện nếu sau này có tranh chấp.
Ai không được làm chứng cho di chúc
Theo Điều 632 Bộ luật Dân sự 2015, mọi người đều có thể làm chứng, trừ các trường hợp dưới đây. Chọn sai người làm chứng là lỗi phổ biến khiến di chúc có người làm chứng bị vô hiệu:
- Người thừa kế theo di chúc của người lập, tức những người được nhận tài sản trong chính bản di chúc đó.
- Người thừa kế theo pháp luật của người lập: vợ, chồng, cha mẹ, con, và những người thuộc các hàng thừa kế khác. Vì vậy con cái, anh chị em ruột thường không nên là người làm chứng.
- Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc, như người đang nợ hoặc cho người lập vay tiền, người thuê nhà đang được di chúc định đoạt.
- Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Người làm chứng phù hợp thường là hàng xóm, bạn bè, đồng nghiệp cũ không có quan hệ huyết thống và không có quyền lợi gì trong di sản. Họ cần có mặt khi người lập ký hoặc điểm chỉ, sau đó tự ký xác nhận chữ ký của người lập ngay trên bản di chúc. Ghi rõ họ tên, số căn cước, nơi cư trú của người làm chứng để có thể tìm lại khi cần.
Di chúc miệng chỉ dùng khi nguy kịch
Điều 629 chỉ cho lập di chúc miệng khi tính mạng một người bị cái chết đe doạ và không thể lập di chúc bằng văn bản, ví dụ tai nạn nặng, bệnh trở nặng đột ngột. Người đó phải thể hiện ý chí cuối cùng trước mặt ít nhất hai người làm chứng; ngay sau đó, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày người di chúc thể hiện ý chí cuối cùng, di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
Sau 3 tháng kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập vẫn còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ. Khi đó nếu muốn, người đó phải lập lại di chúc bằng văn bản.
Trên thực tế, di chúc miệng rất hay bị tranh chấp vì khó chứng minh đủ điều kiện, đặc biệt mốc 5 ngày làm việc. Không nên trông vào hình thức này; người cao tuổi, người mắc bệnh mạn tính nên lập di chúc văn bản sớm khi còn khoẻ.
Người vẫn được hưởng dù di chúc không cho, và chuyện sửa, huỷ di chúc
Điều 644 bảo vệ một số người thân dù di chúc không cho họ hưởng hoặc cho ít: con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng của người lập, và con thành niên mà không có khả năng lao động. Những người này vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trừ khi họ từ chối nhận hoặc thuộc diện không có quyền hưởng di sản. Người lập di chúc cần tính đến quy định này để di chúc không bị điều chỉnh lại sau khi mất.
Di chúc chỉ có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế, tức lúc người lập qua đời. Trước đó, người lập có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc huỷ bỏ di chúc bất cứ lúc nào. Nếu có nhiều bản di chúc cho cùng một tài sản, bản lập sau cùng có hiệu lực. Muốn huỷ, tốt nhất lập một văn bản huỷ bỏ rõ ràng hoặc một di chúc mới ghi “thay thế toàn bộ các di chúc trước”, thay vì chỉ xé bản cũ mà không ai biết.
Di chúc có thể gửi giữ tại tổ chức công chứng hoặc giao cho người tin cậy. Người giữ di chúc có nghĩa vụ giữ bí mật nội dung và công bố khi người lập qua đời. Nên cho người thân biết có di chúc và nơi cất giữ, kẻo bản di chúc hợp pháp nằm yên một chỗ trong khi gia đình đã chia theo pháp luật.
Câu hỏi thường gặp
Di chúc đánh máy rồi ký tên có hợp pháp không?
Chỉ khi có ít nhất hai người làm chứng đủ điều kiện, người lập ký hoặc điểm chỉ trước mặt họ và họ ký xác nhận, hoặc khi di chúc được công chứng, chứng thực. Di chúc đánh máy chỉ có chữ ký người lập, không có người làm chứng, dễ bị tuyên vô hiệu về hình thức.
Vợ chồng có thể lập chung một bản di chúc không?
Bộ luật Dân sự 2015 không còn quy định riêng về di chúc chung của vợ chồng như luật cũ. An toàn hơn là mỗi người lập di chúc riêng cho phần tài sản thuộc về mình, có thể cùng lúc tại cùng tổ chức công chứng, để tránh tranh cãi về hiệu lực khi một người mất trước.
Lập di chúc ở công chứng cần mang gì?
Thường gồm giấy tờ tuỳ thân của người lập, giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản như giấy chứng nhận nhà đất, sổ tiết kiệm, đăng ký xe, và dự thảo di chúc nếu đã soạn. Công chứng viên có thể đến tận nhà hay bệnh viện khi người lập không đi lại được.
Di chúc để hết tài sản cho một người con có được không?
Người lập có quyền định đoạt tài sản của mình theo ý muốn, kể cả để hết cho một người. Tuy nhiên, những người thuộc diện được bảo vệ theo Điều 644, như vợ, chồng, cha mẹ, con chưa thành niên, vẫn được hưởng phần bằng hai phần ba suất thừa kế theo pháp luật.
Di chúc có cần ghi lý do chia không đều không?
Không bắt buộc. Tuy vậy, một vài dòng giải thích ngắn, như người con nào đã được hỗ trợ mua nhà trước đó hay ai là người chăm sóc chính, giúp người thân hiểu ý chí của người lập và giảm nguy cơ tranh chấp.
Di chúc lập ở nước ngoài có dùng được ở Việt Nam không?
Có thể, nếu đáp ứng điều kiện về hình thức theo pháp luật nơi lập hoặc pháp luật Việt Nam, và thường phải được hợp pháp hoá lãnh sự, dịch công chứng khi sử dụng. Với tài sản là bất động sản tại Việt Nam, nên hỏi tổ chức công chứng trước để chuẩn bị đúng giấy tờ.