NhimLongXanh.comNhím Lông Xanh
Tài chính cá nhân

Lãi kép là gì? Công thức tính, ví dụ bằng tiền thật và quy tắc 72

Lãi kép là lãi sinh ra từ cả tiền gốc lẫn tiền lãi cũ. Công thức, bảng ví dụ 100 triệu qua 30 năm, gửi góp mỗi tháng, quy tắc 72 và mặt trái khi đi vay.

Low angle shot of a small potted sapling beside rising stacks of coins on a white table, bright studio light, fresh green and soft gold palette, minimal modern composition

Lãi kép là cách tính lãi trong đó tiền lãi của kỳ trước được cộng vào gốc để tính lãi cho kỳ sau. Nói gọn: lãi sinh ra lãi. Gửi 100 triệu đồng với lãi 6%/năm, năm đầu được 6 triệu; năm sau lãi tính trên 106 triệu nên được 6,36 triệu, và cứ thế tăng dần.

Công thức: A = P × (1 + r)ⁿ, trong đó P là tiền gốc, r là lãi suất mỗi kỳ, n là số kỳ, A là tổng tiền cuối cùng. Với ví dụ trên, sau 10 năm bạn có khoảng 179 triệu, trong khi lãi đơn chỉ cho 160 triệu. Sau 30 năm, khoảng cách là 574 triệu so với 280 triệu.

Lãi kép mạnh nhờ thời gian hơn là nhờ lãi suất hay số tiền. Nó cũng có mặt trái: khi bạn đi vay, đặc biệt là nợ thẻ tín dụng, lãi kép làm khoản nợ phình nhanh theo đúng cơ chế đó.

Lãi đơn và lãi kép khác nhau thế nào

Với lãi đơn, tiền lãi chỉ tính trên số gốc ban đầu. Gửi 100 triệu lãi 6%/năm theo lãi đơn, mỗi năm bạn nhận đúng 6 triệu, rút về tiêu hoặc để riêng, gốc vẫn là 100 triệu. Sau 10 năm, tổng là 160 triệu.

Với lãi kép, tiền lãi không rút ra mà nhập vào gốc. Năm thứ hai lãi tính trên 106 triệu, năm thứ ba trên 112,36 triệu. Mỗi năm phần lãi lớn hơn năm trước một chút. Mười năm đầu, chênh lệch chỉ khoảng 19 triệu; nhưng sang năm thứ 20 thì chênh 100 triệu, năm thứ 30 chênh gần 300 triệu.

Ở ngân hàng Việt Nam, sổ tiết kiệm có kỳ hạn thường tính lãi đơn trong một kỳ. Lãi kép xuất hiện khi bạn chọn tái tục gốc và lãi (còn gọi là lãi nhập gốc) lúc đáo hạn: ngân hàng tự gửi lại cả gốc lẫn lãi sang kỳ mới. Nếu chọn "tái tục gốc, lãi chuyển về tài khoản" thì bạn đang dùng lãi đơn và tự cắt mất hiệu ứng lãi kép.

Công thức lãi kép và cách bấm máy

Công thức cơ bản: A = P × (1 + r)ⁿ. Lãi suất r phải khớp với kỳ tính lãi. Lãi 6%/năm nhập gốc mỗi năm thì r = 0,06, n là số năm. Nếu nhập gốc mỗi tháng thì r = 0,06 : 12 = 0,005 và n là số tháng. Gửi 100 triệu, nhập gốc hằng tháng trong 10 năm: A = 100 × 1,005¹²⁰, xấp xỉ 181,9 triệu, nhỉnh hơn so với nhập gốc mỗi năm (179,1 triệu).

Trên điện thoại, mở máy tính, xoay ngang để có chế độ khoa học, dùng phím xʸ hoặc ^. Ví dụ tính 1,06 mũ 10: gõ 1,06, bấm xʸ, gõ 10, bấm bằng, được khoảng 1,7908. Nhân với số gốc là xong. Trên bảng tính Excel hay Google Sheets, gõ =100*(1+6%)^10.

Muốn biết phần lãi riêng, lấy A trừ P. Muốn biết lãi suất thực tế mỗi năm khi ngân hàng nhập gốc nhiều lần trong năm, dùng (1 + r/m)ᵐ − 1 với m là số lần nhập gốc. Lãi 6%/năm nhập gốc hằng tháng tương đương khoảng 6,17%/năm. Khác biệt nhỏ, nhưng đây là lý do khi so sánh khoản vay hay khoản gửi, bạn nên hỏi rõ lãi nhập gốc theo kỳ nào.

100 triệu đồng sau 30 năm: lãi đơn và lãi kép

Bảng giả định lãi suất cố định 6%/năm, không rút tiền, không tính thuế và lạm phát. Lãi suất thực tế ngân hàng thay đổi theo thời kỳ; con số ở đây chỉ để thấy hình dạng của đường tăng trưởng.

SauLãi đơnLãi kép (nhập gốc mỗi năm)Chênh lệch
1 năm106 triệu106 triệu0
3 năm118 triệukhoảng 119,1 triệukhoảng 1,1 triệu
5 năm130 triệukhoảng 133,8 triệukhoảng 3,8 triệu
10 năm160 triệukhoảng 179,1 triệukhoảng 19,1 triệu
15 năm190 triệukhoảng 239,7 triệukhoảng 49,7 triệu
20 năm220 triệukhoảng 320,7 triệukhoảng 100,7 triệu
30 năm280 triệukhoảng 574,3 triệukhoảng 294,3 triệu

Nhìn bảng sẽ thấy lãi kép "ì" trong vài năm đầu rồi tăng tốc rõ từ năm thứ 10. Đây là lý do nhiều người bỏ cuộc sớm vì thấy chênh lệch không đáng kể, đúng lúc đường cong sắp dốc lên.

Gửi góp mỗi tháng: bắt đầu sớm quan trọng hơn gửi nhiều

Phần lớn người đi làm không có sẵn 100 triệu, mà để dành được một khoản nhỏ mỗi tháng. Công thức cho gửi góp đều mỗi tháng là A = M × [(1 + r)ⁿ − 1] : r, với M là số tiền góp mỗi tháng và r là lãi suất tháng.

Ví dụ góp 2 triệu đồng mỗi tháng, lãi giả định 6%/năm nhập gốc hằng tháng. Sau 20 năm, tổng tiền góp là 480 triệu, tổng tài sản khoảng 924 triệu. Nếu bắt đầu sớm hơn 10 năm, góp đủ 30 năm, tổng góp là 720 triệu nhưng tổng tài sản khoảng 2 tỷ đồng. Mười năm góp thêm chỉ thêm 240 triệu tiền gốc, nhưng thêm khoảng 1,1 tỷ vào kết quả cuối.

Điều này không có nghĩa người bắt đầu muộn thì vô ích. Nó có nghĩa là thời điểm tốt nhất để bắt đầu luôn là bây giờ, với số tiền nhỏ cũng được, rồi tăng dần khi thu nhập tăng. Một kế hoạch góp đều 500 nghìn mỗi tháng duy trì được nhiều năm có giá trị hơn kế hoạch góp 5 triệu mà bỏ sau ba tháng.

Quy tắc 72: ước lượng nhanh bao lâu tiền nhân đôi

Cách dùng: lấy 72 chia cho lãi suất năm (tính bằng số phần trăm) sẽ ra số năm xấp xỉ để tiền tăng gấp đôi nhờ lãi kép. Lãi 6%/năm: 72 : 6 = 12 năm. Lãi 8%/năm: khoảng 9 năm.

Kiểm tra lại bằng công thức: 1,06 mũ 12 xấp xỉ 2,01, tức đúng là gấp đôi. Quy tắc 72 khá chính xác trong khoảng lãi suất 4–12%/năm, ngoài khoảng đó sai số lớn dần.

Dùng ngược cho lạm phát: nếu giá cả tăng trung bình 4%/năm, sau khoảng 18 năm một khoản tiền chỉ còn mua được một nửa số hàng hoá như hiện nay. Tiền để không trong tủ mất giá theo đúng cơ chế lãi kép, chỉ là theo chiều ngược lại.

Dùng để nhận ra lời mời "quá đẹp": một lời mời hứa lãi 5%/tháng tương đương gấp đôi tiền chỉ sau khoảng 14 tháng, tức hơn 70%/năm. Không kênh hợp pháp nào cam kết chắc chắn mức này; đây là dấu hiệu điển hình của mô hình lừa đảo.

Dùng để thấy giá của nợ: nợ thẻ tín dụng lãi khoảng 30%/năm mà không trả, khoản nợ tăng gấp đôi chỉ sau khoảng 2,5 năm, chưa kể phí phạt trả chậm.

Mặt trái của lãi kép: nợ và lạm phát

Lãi kép không phân biệt bạn là người gửi hay người vay. Với thẻ tín dụng, nếu không thanh toán đủ dư nợ sao kê, ngân hàng tính lãi trên dư nợ, và phần lãi chưa trả lại bị cộng vào dư nợ kỳ sau. Chỉ trả mức tối thiểu khoảng 5% mỗi tháng có thể khiến một khoản nợ nhỏ kéo dài nhiều năm, tổng tiền lãi vượt cả số tiền đã mua sắm.

Lạm phát là "lãi kép âm" lặng lẽ nhất. Lãi gửi tiết kiệm danh nghĩa 5%/năm mà lạm phát 4% thì sức mua thực chỉ tăng khoảng 1%. Vì vậy, khi đánh giá một kênh tích luỹ, hãy nghĩ theo lãi thực bằng lãi danh nghĩa trừ lạm phát, chứ không chỉ nhìn con số ngân hàng niêm yết.

Ở Việt Nam, lãi tiền gửi tiết kiệm của cá nhân tại ngân hàng được miễn thuế thu nhập cá nhân, nên bạn nhận đủ số lãi được tính. Đây là một điểm cộng của kênh gửi tiết kiệm khi so với các kênh khác có thuế hoặc phí giao dịch.

Ba thứ quyết định kết quả: gốc, lãi suất và thời gian

Để thấy yếu tố nào mạnh nhất, thử thay đổi từng yếu tố trong khi giữ nguyên hai yếu tố còn lại. Gốc ban đầu 100 triệu, lãi nhập gốc mỗi năm, kết quả làm tròn.

Kịch bảnLãi suấtThời gianKết quả xấp xỉ
Gốc chuẩn6%/năm10 năm179 triệu
Tăng gấp đôi gốc lên 200 triệu6%/năm10 năm358 triệu, tức kết quả cũng gấp đôi
Tăng lãi suất thêm 2 điểm8%/năm10 năm216 triệu
Kéo dài gấp đôi thời gian6%/năm20 năm321 triệu
Kéo dài gấp ba thời gian6%/năm30 năm574 triệu

Gốc tăng bao nhiêu thì kết quả tăng đúng bấy nhiêu, không hơn. Thời gian thì khác: tăng gấp đôi thời gian làm phần lãi tăng hơn gấp đôi, tăng gấp ba thời gian làm phần lãi tăng gần sáu lần. Đó là lý do lời khuyên kinh điển luôn là bắt đầu sớm và đừng rút giữa chừng.

Lãi suất cao hơn cũng giúp nhiều, nhưng lãi suất cao thường đi kèm rủi ro cao. Với người mới, kéo dài thời gian và giữ kỷ luật là hai yếu tố dễ kiểm soát nhất.

Câu hỏi thường gặp

Gửi tiết kiệm ngân hàng có phải là lãi kép không?

Trong một kỳ hạn, ngân hàng thường tính lãi đơn. Lãi kép chỉ xảy ra khi bạn chọn tái tục cả gốc và lãi lúc đáo hạn, để lãi kỳ trước tiếp tục sinh lãi ở kỳ sau. Hãy kiểm tra lựa chọn này khi mở sổ trên ứng dụng hoặc tại quầy.

Lãi kép theo tháng có lợi hơn theo năm không?

Có, nhưng không nhiều. Với lãi 6%/năm, nhập gốc hằng tháng tương đương khoảng 6,17%/năm so với 6% nếu nhập gốc mỗi năm. Tuy nhiên kỳ hạn ngắn thường có lãi suất niêm yết thấp hơn kỳ hạn dài, nên cần so con số cuối cùng chứ không chỉ số lần nhập gốc.

Có cách nào tính lãi kép nhanh không cần công thức?

Có thể dùng quy tắc 72 để ước lượng thời gian nhân đôi, hoặc dùng hàm FV trong Excel và Google Sheets: =FV(lãi suất kỳ; số kỳ; -số góp mỗi kỳ; -số gốc ban đầu). Nhiều ứng dụng ngân hàng cũng có công cụ tính lãi tiết kiệm.

Lãi kép có giúp làm giàu nhanh không?

Không nhanh. Lãi kép phát huy chủ yếu sau 10–20 năm và cần lãi suất dương sau lạm phát, cộng kỷ luật không rút ra giữa chừng. Bất kỳ lời mời nào dùng chữ lãi kép để hứa nhân đôi tiền trong vài tháng đều đáng nghi.

Rút tiền lãi ra tiêu có mất lãi kép không?

Có. Khi rút lãi ra, gốc của kỳ sau chỉ còn bằng số gốc ban đầu nên bạn quay về lãi đơn. Nếu cần một phần tiền chi tiêu, cân nhắc chỉ rút một phần lãi và để phần còn lại tiếp tục nhập gốc.

Lãi kép áp dụng cho khoản vay như thế nào?

Khi bạn không trả hết lãi đến hạn, phần lãi chưa trả có thể bị cộng vào dư nợ và tiếp tục chịu lãi, điển hình là nợ thẻ tín dụng. Vì vậy trả đủ dư nợ đúng hạn, hoặc ít nhất trả càng nhiều càng tốt, là cách tránh lãi kép làm nợ phình lên.

Bài viết liên quan

Có câu hỏi hay góp ý? Viết cho Nhím Lông Xanh

Thấy bài sai, muốn đề xuất chủ đề, hay có điều muốn hỏi? Để lại lời nhắn, Nhím Lông Xanh sẽ trả lời.