Ở người không mắc tiểu đường, đường huyết lúc đói bình thường dưới 5,6 mmol/L (100 mg/dL), HbA1c dưới 5,7%, và đường huyết 2 giờ sau khi uống 75 g glucose dưới 7,8 mmol/L (140 mg/dL). Đường huyết đói từ 5,6 đến 6,9 mmol/L hoặc HbA1c 5,7–6,4% là tiền đái tháo đường; đường huyết đói từ 7,0 mmol/L (126 mg/dL) hoặc HbA1c từ 6,5% trở lên là ngưỡng chẩn đoán đái tháo đường, với điều kiện được xác nhận đúng cách.
Hai chỉ số này nói về hai khoảng thời gian khác nhau. Đường huyết là ảnh chụp tại đúng thời điểm lấy máu, thay đổi theo bữa ăn, giấc ngủ, cảm xúc. HbA1c giống bức ảnh phơi sáng dài, phản ánh mức đường trung bình 2–3 tháng qua. Biết đọc cả hai giúp bạn hiểu vì sao bác sĩ không chẩn đoán tiểu đường chỉ từ một con số cao trong lần khám sức khoẻ.
Bảng ngưỡng đường huyết và HbA1c theo ba mức
Các ngưỡng dưới đây theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA). Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường típ 2 của Bộ Y tế (Quyết định 5481/QĐ-BYT năm 2020) dùng cùng các ngưỡng chẩn đoán đái tháo đường; tiền đái tháo đường có tài liệu hướng dẫn riêng (Quyết định 3087/QĐ-BYT năm 2020). Tổ chức Y tế Thế giới dùng ngưỡng đường huyết đói rối loạn từ 6,1 mmol/L, nên một số phiếu có thể in khoảng tham chiếu khác một chút.
| Xét nghiệm | Bình thường | Tiền đái tháo đường | Đái tháo đường |
|---|---|---|---|
| Đường huyết lúc đói (nhịn ít nhất 8 tiếng) | dưới 5,6 mmol/L (dưới 100 mg/dL) | 5,6–6,9 mmol/L (100–125 mg/dL) | từ 7,0 mmol/L (từ 126 mg/dL) |
| Đường huyết 2 giờ sau uống 75 g glucose | dưới 7,8 mmol/L (dưới 140 mg/dL) | 7,8–11,0 mmol/L (140–199 mg/dL) | từ 11,1 mmol/L (từ 200 mg/dL) |
| HbA1c | dưới 5,7% | 5,7–6,4% | từ 6,5% |
| Đường huyết bất kỳ | không dùng để phân loại | không dùng để phân loại | từ 11,1 mmol/L kèm triệu chứng điển hình |
Đổi đơn vị: mmol/L nhân 18 ra mg/dL. Ví dụ 6,2 mmol/L là khoảng 112 mg/dL. Máy đo cá nhân mua ở nước ngoài hay mặc định mg/dL; nếu thấy con số hàng trăm thì đừng hoảng, hãy kiểm tra đơn vị trong cài đặt máy.
Lưu ý khái niệm “sau ăn 2 giờ”. Trong chẩn đoán, người ta dùng nghiệm pháp dung nạp glucose: nhịn đói qua đêm, uống 75 g glucose pha nước, ngồi yên rồi lấy máu sau đúng 2 giờ. Đường huyết đo sau một bữa cơm bình thường dao động nhiều theo món ăn nên chỉ dùng để theo dõi, không dùng để chẩn đoán.
Vì sao một lần cao chưa đủ để kết luận tiểu đường
Theo tiêu chuẩn hiện hành, nếu không có triệu chứng rõ ràng, chẩn đoán đái tháo đường cần hai kết quả bất thường: hoặc cùng một xét nghiệm được làm lại ở một ngày khác, hoặc hai xét nghiệm khác nhau (ví dụ đường huyết đói và HbA1c) cùng vượt ngưỡng trong một mẫu máu. Lý do là đường huyết có thể tăng tạm thời vì nhiều yếu tố không phải bệnh.
Những tình huống làm đường huyết đói cao giả gồm: nhịn ăn chưa đủ 8 tiếng hoặc lỡ uống sữa, cà phê có đường buổi sáng; mất ngủ, căng thẳng, đang sốt, nhiễm trùng; mới dùng thuốc corticoid; nhịn quá lâu rồi gan tự huy động đường. Ở người đang ốm nằm viện, đường huyết tăng do stress là hiện tượng hay gặp và cần đánh giá lại khi đã ổn định.
Ngược lại, một kết quả bình thường cũng không loại trừ hoàn toàn. Một số người, nhất là người châu Á, có đường huyết đói còn bình thường nhưng đường huyết sau uống glucose đã cao. Vì vậy với người nhiều yếu tố nguy cơ, bác sĩ có thể chỉ định nghiệm pháp dung nạp glucose hoặc HbA1c thay vì chỉ thử đường lúc đói.
Trường hợp có triệu chứng điển hình như khát nhiều, tiểu nhiều, sụt cân không rõ lý do, cộng với đường huyết bất kỳ từ 11,1 mmol/L trở lên thì một lần là đủ để chẩn đoán. Nếu kèm nôn, thở nhanh, lơ mơ, cần đi cấp cứu vì có thể là biến chứng nhiễm toan ceton hoặc tăng áp lực thẩm thấu.
HbA1c: điểm mạnh, điểm yếu và khi nào kết quả bị sai lệch
Không cần nhịn ăn. HbA1c đo tỉ lệ huyết sắc tố đã gắn đường, ít chịu ảnh hưởng của bữa ăn hôm đó, nên lấy máu giờ nào cũng được. Đây là lý do nó tiện cho tầm soát và theo dõi.
Phản ánh 2–3 tháng, nặng về những tuần gần nhất. Hồng cầu sống khoảng 120 ngày, nên HbA1c phản ánh trung bình của quãng này. Thay đổi lối sống hay thuốc cần ít nhất khoảng 3 tháng mới thấy đầy đủ trên HbA1c; thử lại sớm hơn sẽ thấy giảm chưa hết.
Sai lệch khi hồng cầu bất thường. Thiếu máu thiếu sắt có thể làm HbA1c cao giả; ngược lại mất máu, vừa truyền máu, tan máu, bệnh thận nặng, mang thai làm HbA1c thấp giả. Người mang biến thể huyết sắc tố hoặc thalassemia, vốn không hiếm ở Việt Nam, cũng có thể có kết quả lệch tuỳ phương pháp đo. Khi HbA1c và đường huyết “không khớp nhau”, hãy kể với bác sĩ về tiền sử thiếu máu.
Ước lượng đường huyết trung bình. Một quy đổi gần đúng thường dùng: HbA1c 6% tương ứng đường huyết trung bình khoảng 7,0 mmol/L; 7% khoảng 8,6 mmol/L; 8% khoảng 10,2 mmol/L. Mỗi 1% tăng thêm tương ứng khoảng 1,6 mmol/L.
Mục tiêu ở người đã mắc tiểu đường. Nhiều người trưởng thành được đặt mục tiêu HbA1c dưới 7%, nhưng người cao tuổi, hay hạ đường huyết hoặc có nhiều bệnh kèm có thể được đặt mục tiêu nới hơn. Mục tiêu là cá nhân hoá, do bác sĩ điều trị quyết định.
Khi hai chỉ số “cãi nhau”. Có người đường huyết đói 6,3 mmol/L mà HbA1c 5,4%, hoặc ngược lại. Đừng chọn con số mình thích. Bác sĩ thường cho thử lại cả hai, có khi làm thêm nghiệm pháp dung nạp glucose, và nếu nghi HbA1c sai lệch vì bệnh về máu thì dùng đường huyết làm chính. Việc thay đổi lối sống thì nên bắt đầu ngay, vì nó có lợi dù kết luận cuối cùng là gì.
Bị tiền tiểu đường: làm gì để không chuyển thành tiểu đường
Tiền đái tháo đường là giai đoạn có thể đảo ngược. Các chương trình can thiệp lối sống lớn cho thấy giảm cân và vận động đều làm giảm đáng kể tỉ lệ tiến triển thành tiểu đường type 2 trong vài năm sau.
- Giảm 5–7% cân nặng nếu thừa cân. Người nặng 70 kg giảm 4–5 kg đã có ý nghĩa; tập trung vào vòng bụng.
- Vận động 150 phút mỗi tuần, chia ít nhất 5 ngày, và không ngồi liền quá 30–60 phút. Đi bộ 10–15 phút sau bữa ăn giúp hạ đường huyết sau ăn rõ rệt.
- Đổi cách ăn tinh bột: bớt cơm trắng, bánh mì trắng, bún phở ăn liền nhiều bữa; thay một phần bằng gạo lứt, khoai, đậu; ăn rau trước, đạm sau, tinh bột cuối bữa.
- Gần như bỏ đồ uống có đường: nước ngọt, trà sữa, nước ép đóng chai, cà phê nhiều đường. Đây thường là nguồn đường lớn nhất mà người ta không nhận ra.
- Ngủ đủ 7 tiếng, bỏ thuốc lá; thiếu ngủ kéo dài làm tăng đề kháng insulin.
- Kiểm tra lại mỗi năm bằng đường huyết đói hoặc HbA1c, đồng thời đo huyết áp, mỡ máu vì chúng thường đi cùng nhau.
Có người tiền tiểu đường được bác sĩ cân nhắc dùng thuốc sớm, thường là người trẻ béo phì nhiều, phụ nữ từng bị tiểu đường thai kỳ hoặc người có chỉ số tiến triển nhanh. Đây là quyết định chuyên môn, không phải lý do để tự mua thuốc.
Ai nên thử đường huyết và bao lâu một lần
Theo khuyến cáo phổ biến, mọi người lớn từ 35 tuổi nên được tầm soát, kết quả bình thường thì lặp lại ít nhất 3 năm một lần. Người dưới 35 tuổi nên thử sớm hơn nếu thừa cân (với người châu Á, BMI từ 23 trở lên đã tính là thừa cân), có cha mẹ hoặc anh chị em ruột bị tiểu đường, tăng huyết áp, mỡ máu bất thường, ít vận động, phụ nữ từng bị tiểu đường thai kỳ hoặc sinh con trên 4 kg, hội chứng buồng trứng đa nang.
Người đã ở mức tiền tiểu đường nên thử mỗi năm. Phụ nữ mang thai thường được làm nghiệm pháp dung nạp glucose trong khoảng tuần 24–28 để tầm soát tiểu đường thai kỳ.
Còn với máy đo đường huyết tại nhà: thiết bị cá nhân rất hữu ích để người đã mắc bệnh theo dõi, nhưng sai số cho phép của máy có thể tới khoảng 15%, và giọt máu đầu ngón tay khác với máu tĩnh mạch. Không dùng máy cá nhân để tự chẩn đoán. Nếu đo ở nhà thấy cao bất thường, hãy đi xét nghiệm máu tĩnh mạch ở cơ sở y tế. Mẹo cho kết quả đo nhà chuẩn hơn: rửa tay bằng xà phòng và lau khô (đường trên da do vừa cầm trái cây có thể làm kết quả cao vọt), lấy giọt máu ở mặt bên đầu ngón tay, que thử còn hạn và bảo quản đúng.
Câu hỏi thường gặp
Đường huyết lúc đói 6,0 mmol/L có sao không?
Theo ngưỡng ADA, 6,0 mmol/L nằm trong vùng tiền đái tháo đường (5,6–6,9). Chưa phải bệnh tiểu đường, nhưng là tín hiệu nên thay đổi lối sống và thử lại, tốt nhất kèm HbA1c. Nếu lần đó nhịn chưa đủ hoặc mất ngủ, kết quả có thể cao hơn thực tế.
Ăn trái cây có làm tăng đường huyết không?
Có, vì trái cây chứa đường tự nhiên, nhưng trái cây nguyên quả có chất xơ nên tăng chậm hơn nước ép. Người tiểu đường vẫn ăn được trái cây với lượng vừa phải, chia nhỏ trong ngày, ưu tiên loại ít ngọt và hạn chế các loại rất ngọt như sầu riêng, mít, nhãn chín.
Đường huyết thấp bao nhiêu là nguy hiểm?
Dưới 3,9 mmol/L (70 mg/dL) được coi là hạ đường huyết, dưới 3,0 mmol/L là mức đáng kể. Biểu hiện thường là run tay, vã mồ hôi, đói cồn cào, hồi hộp, lú lẫn. Người đang dùng thuốc tiểu đường cần được bác sĩ hướng dẫn cách xử trí; nếu lơ mơ, co giật thì gọi cấp cứu ngay.
HbA1c 6,5% có phải chắc chắn bị tiểu đường?
Một kết quả HbA1c từ 6,5% cần được xác nhận bằng lần thử lại hoặc bằng một xét nghiệm khác như đường huyết lúc đói, trừ khi đã có triệu chứng rõ. Ngoài ra cần loại trừ các yếu tố làm sai lệch HbA1c như thiếu máu, bệnh huyết sắc tố hay bệnh thận.
Tiền tiểu đường có cần uống thuốc không?
Đa số người tiền tiểu đường được khuyên thay đổi lối sống trước. Một số trường hợp nguy cơ cao có thể được bác sĩ cân nhắc dùng thuốc. Đừng tự mua thuốc hạ đường huyết hay thực phẩm chức năng quảng cáo “chữa tiểu đường”, vì có thể gây hạ đường huyết hoặc che lấp diễn biến thật.
Đo đường huyết sau ăn tính từ lúc nào?
Thường tính 2 giờ từ lúc bắt đầu ăn miếng đầu tiên, không phải từ lúc ăn xong. Ở người không tiểu đường, đường huyết lúc này thường dưới 7,8 mmol/L. Người đã mắc bệnh nên hỏi bác sĩ mục tiêu sau ăn riêng cho mình.