NhimLongXanh.comNhím Lông Xanh
Tiếng Việt và chính tả

Thành ngữ hay bị viết sai, hiểu sai: mèo mả gà đồng, khẩu thiệt vô bằng và hơn 25 câu

Giải nghĩa thành ngữ hay bị viết sai, hiểu sai: mèo mả gà đồng, bán tín bán nghi, tan đàn xẻ nghé, khẩu thiệt vô bằng, cái khó ló cái khôn, chó treo mèo đậy.

Wide shot of a Vietnamese grandfather chatting warmly with two grandchildren on a tiled veranda under blooming bougainvillea, late afternoon sun, magenta and leafy green palette

Nhiều thành ngữ quen miệng lại đang bị viết sai một chữ hoặc hiểu lệch nghĩa. Viết đúng là "mèo mả gà đồng" (mả là mồ mả, không phải "mèo mã"), "bán tín bán nghi" (nửa tin nửa ngờ, không phải "bán tính"), "tan đàn xẻ nghé" (xẻ là chia ra, không phải "sẻ"), "khẩu thiệt vô bằng" (lời nói miệng không làm bằng chứng, không phải "khẩu thuyết"), và "vô hình trung" chứ không phải "vô hình chung".

Thành ngữ thường chứa từ cổ hoặc từ Hán Việt mà ngày nay ít dùng riêng lẻ: "tàu" là chuồng ngựa, "néo" là đoạn tre để xoắn dây, "chĩnh" là đồ đựng bằng sành. Khi không còn hiểu chữ, người ta đoán theo âm và viết sai. Bài này gom các thành ngữ hay sai nhất theo ba nhóm: viết sai chữ, nhầm hai câu gần giống, hiểu sai nghĩa; kèm giải nghĩa từng chữ để nhớ lâu.

Nhóm 1: thành ngữ hay bị viết sai chữ

Mỗi dòng có cách viết đúng, cách viết sai hay gặp và nghĩa của chữ dễ nhầm. Hiểu chữ là nhớ được cách viết.

Viết đúngHay viết saiGiải nghĩa
mèo mả gà đồngmèo mã gà đồngmả là mồ mả; mèo hoang ở bãi tha ma, gà lạc ngoài đồng, chỉ kẻ lêu lổng không nơi nương tựa, sống buông thả
bán tín bán nghibán tính bán nghibán là một nửa, tín là tin, nghi là ngờ: nửa tin nửa ngờ
tan đàn xẻ nghétan đàn sẻ nghéxẻ là chia ra; đàn trâu tan, nghé bị tách lẻ, chỉ gia đình hay tập thể chia lìa
khẩu thiệt vô bằngkhẩu thuyết vô bằngkhẩu là miệng, thiệt là lưỡi, vô bằng là không có bằng chứng: nói miệng thì không làm chứng được
ăn xổi ở thìăn sổi ở thìxổi là tạm, cho nhanh (như dưa muối xổi); chỉ lối sống tạm bợ, chỉ lo trước mắt
chuột sa chĩnh gạochuột sa chỉnh gạochĩnh là đồ đựng bằng sành; gặp chỗ sung túc một cách may mắn
rán sành ra mỡrán xành ra mỡsành là đồ gốm nung cứng; rán cả sành cũng mong ra mỡ, chỉ người keo kiệt
đánh trống lảngđánh trống lãnglảng là tránh đi, lảng sang chuyện khác (như lảng tránh); chỉ việc cố ý nói sang chuyện khác để né câu hỏi
đứng mũi chịu sàođứng mũi chịu sầuđứng ở mũi thuyền, chịu chống sào chỗ nước xiết; chỉ người đứng đầu gánh trách nhiệm
năm thì mười hoạnăm thì mười hoạnhoạ ở đây nghĩa là hoạ hoằn, hiếm khi: lâu lắm mới có một lần

Cụm "vô hình trung" không hẳn là thành ngữ nhưng hay bị viết sai nhất trong nhóm này. "Trung" là ở trong; "vô hình trung" nghĩa là trong cái không thấy được, tức là không chủ ý mà vẫn dẫn tới kết quả: "Cách khen như vậy vô hình trung tạo áp lực cho trẻ." Viết "vô hình chung" là sai.

Nhóm 2: những cặp thành ngữ gần giống mà nghĩa khác

"Cái khó ló cái khôn" và "cái khó bó cái khôn". Cả hai đều có thật và nghĩa ngược nhau. "Ló" là hiện ra: gặp khó khăn, con người nảy ra sáng kiến. "Bó" là trói buộc: nghèo khó, thiếu thốn làm người ta không xoay xở được. Dùng nhầm câu này sang câu kia sẽ đổi hẳn ý định khen hay chê.

"Ăn cây nào rào cây ấy" và "ăn cây táo rào cây sung". Câu đầu khen người biết ơn, được hưởng lợi ở đâu thì bảo vệ nơi đó. Câu sau chê kẻ bạc bẽo: hưởng lợi từ cây táo nhưng lại đi rào giữ cây sung cho người khác, tức là ăn ở nơi này mà làm lợi cho nơi khác.

"Cẩn tắc vô ưu" và "cẩn tắc vô áy náy". Câu gốc là "cẩn tắc vô ưu": cẩn thận thì không phải lo. "Cẩn tắc vô áy náy" là cách nói vui pha nửa Hán nửa Việt, nay đã rất phổ biến. Dùng trong trò chuyện thì không sao; văn bản trang trọng nên dùng câu gốc.

"Đứng núi này trông núi nọ" và "được voi đòi tiên". Hai câu dễ bị dùng lẫn vì đều chê sự không bằng lòng. Câu đầu chỉ người không yên với cái đang có, luôn thấy chỗ khác tốt hơn. Câu sau chỉ người được cái này lại đòi cái cao hơn, lòng tham không đáy.

"Chín người mười ý" và "mỗi người một ý". "Chín người mười ý" nhấn mạnh ý kiến còn nhiều hơn số người, khó thống nhất; thường dùng khi bàn bạc tập thể bế tắc. Còn "mỗi người một ý" chỉ nêu sự khác biệt ý kiến, sắc thái nhẹ hơn, không hàm ý bế tắc.

Nhóm 3: thành ngữ hay bị hiểu sai nghĩa

"Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ". "Tàu" ở đây là chuồng ngựa, máng cỏ chung, không phải tàu thuyền. Một con ngựa ốm, cả chuồng ăn không ngon: ý nói tình đồng loại, đồng nghiệp chia sẻ khi có người gặp nạn.

"Chó treo mèo đậy". Không phải treo chó hay đậy mèo. Câu này nói chuyện cất thức ăn: phòng chó thì treo lên cao, phòng mèo thì đậy kín. Nghĩa rộng là tuỳ đối tượng mà có cách phòng ngừa thích hợp.

"Già néo đứt dây". "Néo" là đoạn tre hoặc gậy dùng để xoắn cho dây buộc chặt. Xoắn quá tay thì dây đứt. Ý nói làm căng thẳng quá mức thì hỏng việc, quan hệ đổ vỡ.

"Rút dây động rừng". Dây leo chằng chịt trong rừng, rút một sợi là cả mảng cây rung động. Ý nói đụng tới một việc sẽ ảnh hưởng tới nhiều việc, nhiều người liên quan, nên cần cân nhắc.

"Nuôi ong tay áo". Nuôi ong trong tay áo sẽ bị chính con ong ấy đốt. Chỉ việc giúp đỡ, che chở kẻ về sau quay lại hại mình. Không dùng để nói chuyện chăm chỉ hay tiết kiệm.

"Học ăn, học nói, học gói, học mở". Không chỉ là học nấu nướng. Câu này nói về phép tắc ứng xử: ăn uống từ tốn, nói năng đúng mực, gói ghém cẩn thận, mở lời đúng lúc. Thường dùng khi dạy trẻ về lễ độ.

Giải nghĩa nhanh 12 thành ngữ thông dụng nhất

Đây là những thành ngữ xuất hiện nhiều trong bài văn của học sinh và câu nói hằng ngày. Mỗi câu kèm nghĩa ngắn và một tình huống dùng đúng.

  • Nước đổ đầu vịt: nói mãi mà người nghe không tiếp thu, như nước trôi tuột khỏi lông vịt. Dùng: "Dặn bao lần vẫn quên, đúng là nước đổ đầu vịt."
  • Đầu voi đuôi chuột: bắt đầu rầm rộ, kết thúc nhỏ nhoi, không ra gì. Dùng cho kế hoạch, phong trào làm dở.
  • Ném đá giấu tay: hại người một cách lén lút, không để lộ mình.
  • Ếch ngồi đáy giếng: hiểu biết hạn hẹp mà tưởng mình biết nhiều.
  • Múa rìu qua mắt thợ: khoe tài trước người giỏi hơn mình.
  • Gậy ông đập lưng ông: mưu hại người lại quay về hại chính mình.
  • Mất bò mới lo làm chuồng: đợi hỏng việc mới lo phòng bị.
  • Thắt lưng buộc bụng: chi tiêu dè sẻn trong lúc khó khăn.
  • Há miệng chờ sung: lười biếng, chỉ trông chờ may mắn.
  • Giấu đầu hở đuôi: che giấu vụng về, vẫn để lộ sự thật.
  • Thâm căn cố đế: ăn sâu, bám chắc như rễ và cuống, khó thay đổi; thường nói về thói quen xấu.
  • Dĩ hoà vi quý: lấy sự hoà thuận làm điều quý, tránh xung đột không cần thiết.

Khi dùng thành ngữ trong bài viết, mỗi đoạn chỉ nên có một câu và phải khớp ngữ cảnh. Thành ngữ dùng dày đặc làm bài nặng nề, sáo; dùng sai sắc thái (như dùng câu chê để khen) còn tệ hơn không dùng.

Thành ngữ và tục ngữ khác nhau thế nào

Thành ngữ là cụm từ cố định, thường chưa thành câu trọn vẹn, mang một nghĩa hình ảnh và dùng như một từ trong câu: "đầu voi đuôi chuột", "mèo mả gà đồng", "chuột sa chĩnh gạo". Ta nói "kế hoạch ấy đầu voi đuôi chuột", thành ngữ làm vị ngữ như một tính từ.

Tục ngữ là câu nói trọn vẹn, đúc kết kinh nghiệm hoặc lời khuyên: "Có công mài sắt có ngày nên kim", "Tốt gỗ hơn tốt nước sơn", "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây". Tục ngữ đứng được một mình như một câu hoàn chỉnh, thường có vần và nhịp.

Ranh giới giữa hai loại đôi khi không rạch ròi, và nhiều sách gộp chung thành "thành ngữ, tục ngữ". Với người viết, điều quan trọng hơn là dùng đúng chữ, đúng nghĩa và đúng sắc thái khen chê. Khi chưa chắc một câu, tra Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam bản in uy tín thay vì dựa vào các bài chia sẻ trên mạng xã hội, nơi nhiều câu đã bị chép sai qua nhiều lượt.

Câu hỏi thường gặp

"Mèo mả gà đồng" hay "mèo mã gà đồng"?

Viết "mèo mả gà đồng", chữ "mả" mang dấu hỏi, nghĩa là mồ mả. Thành ngữ ví kẻ sống lêu lổng, không gia đình, không nề nếp, như mèo hoang ở bãi tha ma và gà lạc ngoài đồng.

"Khẩu thiệt vô bằng" nghĩa là gì?

Đây là thành ngữ Hán Việt: khẩu là miệng, thiệt là lưỡi, vô bằng là không có bằng chứng. Ý nói lời hứa miệng không có giá trị làm chứng, nên việc quan trọng cần ghi lại bằng giấy tờ. Viết "khẩu thuyết vô bằng" là sai.

"Vô hình trung" hay "vô hình chung"?

Viết "vô hình trung". "Trung" nghĩa là ở trong; cụm từ chỉ việc không chủ ý mà vẫn dẫn tới một kết quả. Ví dụ: "Việc so sánh con với bạn vô hình trung làm con tự ti." Cách viết "vô hình chung" là sai do nghe nhầm.

"Cẩn tắc vô áy náy" có sai không?

Câu gốc là "cẩn tắc vô ưu", nghĩa là cẩn thận thì không phải lo. "Cẩn tắc vô áy náy" là biến thể vui đã phổ biến trong lời nói. Không sai khi nói chuyện thân mật, nhưng bài văn, văn bản trang trọng nên dùng câu gốc.

"Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ", tàu là gì?

"Tàu" ở đây là chuồng nuôi ngựa, nơi có máng cỏ chung, không phải tàu thuyền hay tàu hoả. Một con ngựa ốm thì cả chuồng bỏ ăn, ý nói tình đồng cảm giữa những người cùng cảnh, cùng tập thể.

Làm sao để nhớ thành ngữ mà không viết sai?

Cách hiệu quả là hiểu nghĩa từng chữ, nhất là chữ cổ và chữ Hán Việt như mả, chĩnh, néo, thiệt. Khi đã hiểu mả là mồ mả, chĩnh là đồ đựng, gần như không thể viết sai. Ghi mỗi thành ngữ kèm một câu ví dụ tự đặt cũng giúp nhớ lâu.

Bài viết liên quan

Có câu hỏi hay góp ý? Viết cho Nhím Lông Xanh

Thấy bài sai, muốn đề xuất chủ đề, hay có điều muốn hỏi? Để lại lời nhắn, Nhím Lông Xanh sẽ trả lời.