NhimLongXanh.comNhím Lông Xanh
Đá quý và đồ quý

Phân biệt gỗ sưa, gỗ trắc, gỗ hương, gỗ cẩm lai: vân gỗ, mùi và tỷ trọng

So sánh gỗ sưa, gỗ trắc, gỗ hương, gỗ cẩm lai qua màu, vân, mùi khi bào, độ nặng, thử ngâm vụn gỗ; nhận biết chiêu sơn màu, dán vân và chuyện nguồn gốc hợp pháp.

Close-up of a Vietnamese carpenter hands planing a reddish brown hardwood plank in a sunny workshop, curled shavings in the foreground, warm golden light, rich red-brown tones

Bốn loại gỗ này đều thuộc nhóm gỗ cứng, màu nâu đỏ đến nâu đen, nên rất dễ bị nhầm và bị đánh tráo. Cách phân biệt chung của người trong nghề là nhìn mặt cắt ngang và vân, ngửi mùi khi bào hoặc cạo, cảm nhận độ nặng, và với gỗ hương thì có thêm phép ngâm vụn gỗ vào nước xem màu nước. Gỗ trắc nặng, nhiều dầu, mùi chua nồng khi mới xẻ; gỗ hương thơm dịu, nhẹ hơn; cẩm lai có sọc đen rõ trên nền đỏ cam; gỗ sưa có mùi thơm nhẹ và vân hoa đẹp.

Tất cả các dấu hiệu này chỉ rõ trên gỗ mộc, chưa phủ sơn. Đồ gỗ thành phẩm đã phủ PU, sơn màu, đánh bóng thì gần như mất hết manh mối bề mặt, và đây chính là chỗ làm giả dễ nhất. Bài dưới so sánh từng loại, các phép thử, các chiêu sơn màu, dán vân, và nhắc chuyện nguồn gốc hợp pháp vì nhiều loài gỗ quý đang được pháp luật bảo vệ.

So sánh nhanh bốn loại gỗ

Bảng mô tả đặc điểm thường gặp của gỗ lõi đã khô. Gỗ cùng loài khác nhau theo vùng, tuổi cây và phần thân, nên dùng như hướng dẫn tham khảo:

Đặc điểmGỗ sưaGỗ trắcGỗ hươngGỗ cẩm lai
Màu lõiNâu đỏ, nâu vàng, có vệt đậmĐỏ thẫm, nâu tím, sẫm thành gần đen theo thời gianVàng đỏ đến đỏ nâu, sáng hơn trắcĐỏ cam, nâu hồng với sọc đen rõ
VânVân hoa uốn lượn, có vân xoáy, vân "mặt quỷ"Vân mịn, sọc đen mảnh, thớ rất chặtVân xoắn, vân núi, đôi khi vân nổi gợnSọc đen đậm chạy song song hoặc lượn sóng
Mùi khi bàoThơm nhẹ, ngọtChua nồng đặc trưngThơm dịu, hơi ngọtMùi nhẹ, hơi chua
Độ nặngKhá nặngRất nặng, nhiều dầu, thường chìmNặng vừa, thường nổiNặng, có thể chìm hoặc lơ lửng
DầuÍt đến vừaNhiều, mặt gỗ bóng tự nhiênVừaVừa đến nhiều

Tên gọi trên thị trường còn rối hơn bảng này: có "trắc đen", "trắc đỏ", "hương đá", "hương Lào", "cẩm lai Bà Rịa", "sưa Bắc", "sưa Lào"… mỗi tên có khi chỉ một loài, có khi gộp nhiều loài. Ngoài ra còn rất nhiều gỗ nhập khẩu trông na ná và được gọi bằng tên gỗ quý trong nước. Khi giá trị món đồ lớn, tên gọi của người bán nên được xác minh bằng giám định loài gỗ.

Đặc điểm riêng của từng loại

Gỗ sưa. Gỗ sưa được nhắc đến nhiều nhất là sưa Bắc Bộ (Dalbergia tonkinensis), giới chơi chia thành sưa đỏ và sưa trắng theo màu lõi, trong đó lõi sưa đỏ được săn tìm. Gỗ lõi có vân hoa đa dạng, đẹp nhất là các vân xoáy tròn mà người chơi gọi là "mặt quỷ", "mắt rồng". Khi bào, gỗ sưa có mùi thơm nhẹ, ngọt. Phần dác (gỗ ngoài lõi) màu trắng vàng, không có giá trị như lõi.

Gỗ trắc. Trắc (thường là Dalbergia cochinchinensis) có thớ cực mịn và chặt, rất nặng, nhiều dầu đến mức mặt gỗ bào xong đã bóng mà không cần đánh véc ni. Mùi chua đặc trưng khi mới xẻ là dấu hiệu dễ nhớ nhất. Màu đỏ thẫm ban đầu chuyển dần sang nâu tím, nâu đen theo năm tháng tiếp xúc ánh sáng.

Gỗ hương. Gỗ hương (chi Pterocarpus, như hương Lào, hương đá) có mùi thơm dịu, màu sáng hơn trắc, vân đẹp và thường có những đường vân xoắn. Đặc điểm được nhắc nhiều: ngâm dăm gỗ vào nước trong, nước chuyển màu vàng và khi soi dưới ánh sáng thấy ánh xanh huỳnh quang. Gỗ hương nhẹ hơn trắc, thường nổi trên nước.

Gỗ cẩm lai. Cẩm lai (thường là các loài Dalbergia như D. oliveri) dễ nhận nhất nhờ các sọc đen sẫm tương phản trên nền đỏ cam, hồng nâu. Gỗ nặng, cứng, có dầu, mùi nhẹ. Cẩm lai mới bào màu tươi, để lâu thì sẫm lại, sọc đen bớt tương phản.

Các phép thử với gỗ mộc

Chỉ làm được khi có gỗ chưa phủ sơn, hoặc ở mặt khuất như mặt dưới, mặt trong ngăn kéo, chân bàn. Xin phép người bán trước khi cạo.

  1. Xem mặt cắt ngang (đầu gỗ): đánh nhẵn một góc nhỏ ở đầu thanh gỗ bằng dao sắc, nhìn bằng kính lúp 10x. Lỗ mạch, tia gỗ, vòng sinh trưởng là "vân tay" của loài gỗ, người giám định dựa vào đây để nhận diện.
  2. Cạo hoặc bào thử, ngửi mùi: mùi rõ nhất ngay khi vừa cạo. Trắc chua nồng, hương thơm dịu, sưa thơm ngọt nhẹ. Gỗ tạp thường mùi hăng hoặc không có mùi.
  3. Cân hoặc ước lượng độ nặng: so với một khối gỗ thông thường cùng kích thước. Gỗ trắc nặng rõ rệt; gỗ nhẹ bất thường so với tên gọi là dấu hiệu đầu tiên đáng nghi.
  4. Ngâm vụn gỗ: cho một nhúm dăm bào vào cốc nước trong, để 15–30 phút. Gỗ hương cho nước vàng và ánh xanh lam khi soi đèn từ bên cạnh. Phép thử này dùng để nhận gỗ hương, không áp dụng cho mọi loại.
  5. Nhỏ cồn lên mặt gỗ mộc: gỗ nhiều dầu có thể đậm màu lên và ra màu vào bông; gỗ đã bị nhuộm thì bông lau ra màu rất mạnh, màu nhuộm thường đồng đều và không theo vân.
  6. Thả mẩu gỗ vào nước: trắc và một số cẩm lai thường chìm, hương thường nổi. Gỗ ẩm, gỗ có dác hoặc gỗ bị tẩm dầu cho kết quả sai, nên dùng như dữ kiện phụ.

Những chiêu làm giả đồ gỗ hay gặp

Đồ gỗ thành phẩm là chỗ làm giả dễ nhất, vì lớp sơn che gần hết bằng chứng. Các chiêu thường thấy:

  • Sơn màu, phun PU dày: gỗ tạp hoặc gỗ rẻ hơn được phun màu đỏ nâu, nâu đen giống trắc, cẩm lai, phủ PU bóng. Vân trông mờ như nhìn qua lớp kính màu, màu đều tăm tắp, không có chỗ đậm nhạt theo thớ.
  • Dán veneer (lạng mỏng): lớp gỗ quý dày chưa tới một milimét dán lên ván ép hoặc gỗ tạp. Xem cạnh bàn, mép tủ, chỗ khoan lỗ: vân ở mặt và vân ở cạnh không liền mạch, cạnh có đường keo mảnh, hoặc mép bị bọc nẹp.
  • In vân giả: giấy hoặc màng in vân gỗ dán lên ván công nghiệp. Soi gần thấy vân lặp lại, không có lỗ mạch thật, sờ phẳng lì.
  • Trộn gỗ: mặt bàn, mặt trước tủ làm gỗ thật, còn hậu tủ, đáy ngăn kéo, khung bên trong làm gỗ rẻ, cùng phủ một lớp màu. Mở ngăn kéo, lật mặt dưới để kiểm.
  • Gỗ nhập cùng chi nhưng khác loài: gỗ ngoại nhập cùng họ, màu và vân gần giống, bán dưới tên gỗ quý trong nước. Phân biệt cái này thường cần giám định giải phẫu gỗ.
  • Tẩm tinh dầu: phết tinh dầu thơm lên gỗ tạp để giả mùi gỗ hương, gỗ sưa. Mùi nồng ngay ở bề mặt, nhưng cạo sâu vào trong thì mất.

Nguồn gốc hợp pháp: phần nhiều người bỏ qua

Nhiều loài gỗ quý, trong đó có các loài sưa, trắc, cẩm lai thuộc chi Dalbergia và một số loài khác, nằm trong danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm theo quy định của Việt Nam, đồng thời thuộc các phụ lục của Công ước CITES về buôn bán quốc tế. Khai thác, vận chuyển, mua bán các loài này phải có hồ sơ nguồn gốc hợp pháp; một số loài bị hạn chế rất chặt.

Với người mua đồ gỗ, điều này có hai ý nghĩa thực tế. Thứ nhất, đồ gỗ quý giá trị lớn nên đi kèm giấy tờ chứng minh nguồn gốc gỗ (hoá đơn, hồ sơ lâm sản), đặc biệt khi vận chuyển số lượng lớn hoặc mang ra nước ngoài. Thứ hai, người bán tự xưng "gỗ sưa đỏ rừng tự nhiên", "trắc rừng già" mà không có giấy tờ thì hoặc không phải thật, hoặc nguồn gốc có vấn đề, cả hai đều rủi ro.

Quy định về quản lý lâm sản và danh mục loài được sửa đổi theo thời gian. Trước khi mua bán, vận chuyển số lượng đáng kể hoặc đồ có giá trị cao, nên tra cứu văn bản hiện hành hoặc hỏi cơ quan kiểm lâm địa phương. Bài này chỉ nhắc chung, không thay cho tư vấn pháp lý.

Giữ đồ gỗ quý cho bền màu, không nứt

Gỗ quý đắt nhưng vẫn là gỗ: nó hút và nhả ẩm theo mùa, co ngót theo nhiệt. Phần lớn hư hỏng đến từ môi trường đặt đồ chứ không phải do gỗ kém:

  • Giữ độ ẩm ổn định: tránh đặt sát tường ẩm, sát cửa ra vào gió lùa hoặc ngay dưới hướng thổi của điều hoà. Mùa nồm miền Bắc nên đóng cửa, bật hút ẩm; mùa hanh khô có thể đặt chậu nước hoặc máy tạo ẩm trong phòng có đồ gỗ lớn.
  • Tránh nắng chiếu thẳng: nắng làm gỗ trắc, cẩm lai sẫm màu không đều, lớp PU khô giòn và bong. Dùng rèm mỏng nếu đồ đặt gần cửa sổ.
  • Lau đúng cách: dùng khăn mềm hơi ẩm vắt thật kiệt, lau theo chiều vân, sau đó lau lại bằng khăn khô. Không dùng nước lau sàn, cồn, chất tẩy đa năng lên mặt gỗ.
  • Đồ hoàn thiện bằng dầu hoặc sáp: khoảng vài tháng một lần lau một lớp dầu hoặc sáp ong mỏng chuyên dùng cho gỗ, để thấm rồi lau sạch phần dư. Đồ phủ PU thì không cần, chỉ lau sạch bụi.
  • Lót chân và đế: đặt miếng nỉ dưới chân đồ, dưới bình hoa, ly nước nóng để tránh vết vòng nước, vết cháy trắng trên mặt gỗ.
  • Theo dõi mối mọt: bột gỗ mịn dưới chân tủ, lỗ nhỏ trên bề mặt là dấu hiệu mọt. Gỗ trắc, cẩm lai nhiều dầu ít bị hơn, nhưng phần dác, gỗ ghép, ván ép đi kèm vẫn có thể bị. Gặp thì xử lý sớm, tách đồ bị mọt khỏi đồ khác.

Câu hỏi thường gặp

Gỗ sưa đỏ và sưa trắng khác nhau thế nào?

Đây là cách gọi của giới chơi gỗ theo màu lõi và vân. Sưa đỏ có lõi đỏ nâu, vân đẹp, mùi thơm rõ hơn, được săn tìm nhiều; sưa trắng lõi nhạt màu hơn, giá trị thấp hơn. Cách phân chia này không hoàn toàn thống nhất, nên khi mua giá trị lớn cần giám định.

Ngâm gỗ hương ra nước màu xanh có chắc là gỗ hương không?

Đó là dấu hiệu đặc trưng thường thấy ở nhiều loài thuộc chi Pterocarpus, nhưng không phải bằng chứng duy nhất. Một số loài gỗ khác cũng cho nước có huỳnh quang, và gỗ hương cũ, đã tẩm sơn có thể cho kết quả yếu. Kết hợp với mùi, vân và trọng lượng để kết luận.

Đồ gỗ đã sơn PU thì có cách nào kiểm không?

Khó kiểm bằng mắt. Có thể xem các chỗ không sơn kỹ như mặt dưới, lỗ mộng, chân, hoặc xin cạo một điểm rất nhỏ ở mặt khuất. Kiểm tra cạnh xem có phải dán veneer không. Với đồ giá trị lớn, nên yêu cầu người bán cam kết loại gỗ trong hợp đồng và cho giám định.

Gỗ trắc có mùi chua mãi mãi không?

Mùi chua rõ nhất khi gỗ mới xẻ, mới bào. Đồ trắc đã hoàn thiện, để lâu năm thì mùi nhạt đi nhiều, nhưng khi cạo nhẹ một điểm ở mặt khuất vẫn ngửi thấy. Đây là lý do thợ hay cạo thử để nhận gỗ.

Có nơi nào giám định loài gỗ không?

Các viện, trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp và một số phòng thí nghiệm chuyên ngành có dịch vụ giám định loài gỗ bằng giải phẫu học (soi lát cắt gỗ dưới kính hiển vi). Cần gửi mẫu gỗ nhỏ lấy từ món đồ. Hỏi trước thời gian và chi phí.

Đồ gỗ quý có nên để gần cửa sổ nắng không?

Không nên. Ánh nắng trực tiếp làm gỗ đổi màu không đều, lớp hoàn thiện khô và nứt; chênh lệch nhiệt, ẩm làm gỗ co ngót, nứt mộng. Đặt đồ gỗ nơi thoáng, tránh nắng chiếu thẳng và tránh ngay hướng gió điều hoà.

Bài viết liên quan

Có câu hỏi hay góp ý? Viết cho Nhím Lông Xanh

Thấy bài sai, muốn đề xuất chủ đề, hay có điều muốn hỏi? Để lại lời nhắn, Nhím Lông Xanh sẽ trả lời.