NhimLongXanh.comNhím Lông Xanh
Đá quý và đồ quý

Tuổi vàng là gì: vàng 24K, 18K, 14K, vàng 9999, 750, 610 khác nhau thế nào

Tuổi vàng cho biết vàng chiếm bao nhiêu phần trong hợp kim. Bảng quy đổi karat sang 999, 750, 585, vàng tây, vàng 610 và cách đọc ký hiệu khắc trên nhẫn.

Top-down flat lay of five gold rings in graded shades from deep yellow to pale rose on a sage green linen cloth, soft diffused daylight, minimal modern styling

Tuổi vàng là tỷ lệ vàng nguyên chất có trong một món đồ, phần còn lại là các kim loại pha như bạc, đồng, kẽm, palladium. Người Việt đọc tuổi vàng theo thang 10: vàng 10 tuổi là gần như nguyên chất, vàng 7 tuổi rưỡi là 75% vàng. Thế giới đọc theo karat (K) trên thang 24, hoặc theo phần nghìn khắc thành số: 24K tương ứng 999, 18K là 750, 14K là 585.

Như vậy vàng 9999 là vàng 99,99%, vàng 750 chính là vàng 18K, còn vàng 610 là vàng có 61% vàng, nằm giữa 14K và 15K. Tuổi càng cao vàng càng mềm, màu càng đậm; tuổi càng thấp vàng càng cứng, màu nhạt hơn và giữ dáng trang sức tốt hơn.

Phần dưới giải thích cách quy đổi, các tên gọi quen ở tiệm vàng Việt Nam và cách đọc ký hiệu khắc trên nhẫn để biết mình đang cầm loại nào.

Bảng quy đổi karat, phần nghìn và tuổi vàng kiểu Việt

Karat là số phần vàng trên tổng 24 phần. Muốn đổi sang phần trăm, lấy số karat chia 24. Ví dụ 18 chia 24 bằng 0,75, tức 75%. Ký hiệu khắc phần nghìn được làm tròn theo thông lệ ngành:

KaratTỷ lệ vàngKý hiệu khắcCách gọi ở Việt Nam
24K99,9–99,99%999, 9999Vàng ta, vàng ròng, vàng 4 số 9, vàng 10 tuổi
22K91,6%916Ít gặp ở Việt Nam, phổ biến ở Ấn Độ, Trung Đông
18K75%750Vàng tây 18K, vàng 7 tuổi rưỡi
khoảng 16K68%680Vàng 680, vàng gần 7 tuổi
khoảng 14,6K61%610Vàng 610, vàng 6 tuổi 1
14K58,3–58,5%583, 585Vàng tây 14K, gần 6 tuổi
10K41,7%416, 417Vàng 10K, hơn 4 tuổi

Bảng cho thấy hai hệ đo không trùng khít: vàng 610 không đúng bằng 14K hay 15K mà là một mức tuổi riêng, quen dùng ở thị trường Việt. Khi so sánh hai món, hãy quy về phần trăm hoặc phần nghìn thay vì so số karat với số tuổi.

Vàng ta, vàng tây và vàng 9999 khác nhau ở đâu

Vàng ta là cách gọi dân gian cho vàng tuổi cao nhất, 99,9% trở lên, dùng làm nhẫn trơn, vàng miếng, vàng tích trữ. Vàng 9999 (bốn số 9) và 999 (ba số 9) đều thuộc nhóm này; khác biệt 0,09% không nhìn được bằng mắt nhưng phản ánh độ tinh luyện. Vàng ta có màu vàng đậm hơi cam, rất mềm, dễ móp và trầy, nên ít khi làm thành trang sức chạm khắc chi tiết hay gắn đá.

Vàng tây là tên gọi chung cho các hợp kim vàng tuổi thấp hơn như 18K, 14K, 10K, do kiểu chế tác trang sức này phổ biến từ phương Tây. Kim loại pha giúp vàng cứng hơn và đổi màu theo ý: pha nhiều đồng ra vàng hồng, pha palladium hoặc niken ra vàng trắng, pha bạc ra vàng hơi xanh nhạt. Vì vậy vàng tây có nhiều màu, chịu được việc gắn đá, làm móc nhỏ, chạm hoa văn mảnh.

Cần phân biệt tuổi vàng với màu vàng. Một chiếc nhẫn vàng hồng 18K và một chiếc vàng trắng 18K có cùng 75% vàng, chỉ khác phần 25% còn lại. Màu không cho biết tuổi, chỉ ký hiệu khắc, hoá đơn và thiết bị đo mới cho biết.

Vì sao vàng tuổi thấp cứng hơn và giữ dáng tốt hơn

Vàng nguyên chất có cấu trúc tinh thể rất dễ trượt, nên dát mỏng được thành lá vàng chỉ dày khoảng một phần mười micromet, mỏng hơn sợi tóc cả nghìn lần. Đó là ưu điểm khi chế tác nhưng là nhược điểm khi đeo: nhẫn vàng 24K đeo vài tháng đã có vết móp ở mặt ngoài, các chấu giữ đá dễ bị bung, móc dây chuyền dễ duỗi ra. Khi pha thêm đồng, bạc hay kẽm, các nguyên tử lạ chen vào mạng tinh thể làm các lớp khó trượt lên nhau hơn, kết quả là hợp kim cứng hơn nhiều lần.

Đó là lý do nhẫn cưới, nhẫn đính hôn có ổ đá thường làm bằng 18K hoặc 14K: chấu giữ đá cần đủ cứng để không mở ra sau vài lần va vào cạnh bàn. Dây chuyền mảnh, khuyên tai móc nhỏ cũng ưu tiên vàng tây vì vàng ta quá mềm sẽ biến dạng. Ngược lại, nhẫn trơn vàng ta to bản, ít chi tiết thì vẫn đeo được nếu chấp nhận vết trầy theo thời gian.

Đổi lại, vàng tuổi thấp có nhiều đồng hơn nên đôi khi sạm nhẹ khi gặp mồ hôi, thuốc tẩy, nước hồ bơi có clo. Người có làn da nhạy cảm với niken nên hỏi rõ thành phần kim loại pha, đặc biệt với vàng trắng tuổi thấp.

Vàng 610, vàng 680 và những mức tuổi chỉ thị trường Việt quen dùng

Bên cạnh các mức quốc tế 18K, 14K, 10K, tiệm vàng Việt Nam còn bán nhiều mức tuổi theo thang phần nghìn như 610, 680, 700. Đây là cách gọi trực tiếp theo tỷ lệ vàng: vàng 610 có 610 phần vàng trên 1.000 phần, vàng 680 có 680 phần. Những mức này ra đời vì thói quen người mua thích vàng có màu đậm hơn 14K nhưng vẫn đủ cứng để làm trang sức chạm khắc, lại dễ chịu về chi phí hơn 18K.

Vì không phải chuẩn quốc tế, các mức như 610 hay 680 có thể khó quy đổi khi bạn mang ra nước ngoài bán hoặc so với trang sức nhập khẩu. Trong nước, mỗi nơi có thể pha kim loại khác nhau ở phần còn lại, nên màu vàng 610 của hai tiệm không nhất thiết giống hệt. Khi mua, điều cần nhất là con số tuổi trên hoá đơn khớp với số khắc, và bạn biết rõ mình đang trả tiền cho bao nhiêu phần vàng.

Một nhầm lẫn hay gặp là nghĩ “vàng 18K” và “vàng 7 tuổi” là một. Thực ra 18K là 75%, tức 7 tuổi rưỡi; vàng 7 tuổi đúng nghĩa là 70%, thấp hơn 18K. Tương tự, “vàng 6 tuổi” là 60%, chứ không phải 14K. Hỏi rõ phần trăm hoặc phần nghìn là cách tránh hiểu lầm nhanh nhất.

Đọc ký hiệu khắc trên nhẫn ra sao

Ký hiệu thường khắc ở mặt trong nhẫn, cạnh khoá dây chuyền, mặt sau mặt dây hoặc trên móc hoa tai. Chữ rất nhỏ, nên soi bằng kính lúp 10x dưới đèn sáng. Các dạng hay gặp:

  • Số phần nghìn như 999, 750, 610, 585: cho biết tỷ lệ vàng.
  • Số karat như 24K, 18K, 14K, đôi khi viết 18KT hoặc 18ct (cách viết của Anh).
  • Chữ chỉ màu như WG (vàng trắng), RG hoặc PG (vàng hồng), YG (vàng vàng), đi kèm số tuổi.
  • Ký hiệu nhà chế tác: vài chữ cái hoặc hình riêng của xưởng, giúp truy lại nơi làm khi cần bảo hành.
  • KP sau số karat (ví dụ 14KP) theo thông lệ một số nước nghĩa là tuổi vàng đúng bằng hoặc không thấp hơn con số ghi.
  • Chữ cảnh báo GP, GF, HGE, RGP, hay số tuổi dính liền với các chữ đó (18KGP): đây là đồ mạ hoặc bọc vàng, không phải vàng đặc.

Ký hiệu chỉ là lời công bố của người làm. Đồ của tiệm uy tín thường khắc đúng và đi kèm hoá đơn ghi tuổi vàng, trọng lượng. Nếu mua lại đồ cũ không có giấy tờ, nên nhờ tiệm có máy XRF kiểm để biết tuổi thật.

Chọn tuổi vàng theo mục đích dùng

Tích trữ, để dành lâu dài: vàng 9999 hoặc 999 dạng nhẫn trơn, miếng, vì tuổi cao nên mua bán lại dễ quy đổi, ít bị trừ hao do pha kim loại. Nên chọn món có ghi rõ trọng lượng theo chỉ (1 chỉ bằng 3,75 g) hoặc lượng (1 lượng bằng 10 chỉ, tức 37,5 g).

Nhẫn cưới, nhẫn đeo hằng ngày: 18K là điểm cân bằng giữa màu vàng đẹp và độ cứng. Người làm việc tay chân nhiều, hay va chạm có thể chọn 14K hoặc 610 để bền dáng hơn.

Trang sức gắn đá, kiểu dáng mảnh: 18K hoặc 14K để chấu đủ cứng. Vàng ta gần như không dùng cho ổ đá nhỏ vì chấu dễ mở.

Quà tặng trẻ nhỏ: nhiều gia đình chọn lắc, nhẫn vàng ta trơn để sau này dễ bán lại; cần chọn mẫu không có cạnh sắc, khoá chắc, và lưu ý trẻ nhỏ có thể nuốt món đồ nhỏ.

Khi bán lại: giá thu mua tính theo tuổi vàng và trọng lượng vàng thực, nên vàng tây thường bị trừ thêm công chế tác và hao hụt khi nấu lại. Đây là đặc điểm chung của thị trường, mức trừ cụ thể tuỳ từng nơi, nên hỏi rõ trước khi mua nếu bạn định bán lại sau này.

Tuổi vàng và trọng lượng: một chỉ vàng 18K có bao nhiêu vàng thật

Ở Việt Nam vàng cân theo chỉ và lượng: 1 lượng (cây) bằng 10 chỉ, 1 chỉ bằng 3,75 gam. Con số tuổi cho bạn tính ngay lượng vàng nguyên chất nằm trong món đồ. Một chỉ vàng 9999 chứa gần trọn 3,75 gam vàng. Một chỉ vàng 18K (750) chứa 3,75 × 0,75 ≈ 2,81 gam vàng. Một chỉ vàng 610 chứa khoảng 2,29 gam, còn một chỉ 14K (585) chứa khoảng 2,19 gam.

Phép tính này giải thích vì sao hai chiếc nhẫn cùng nặng 2 chỉ lại được thu mua chênh nhau nhiều: thứ người mua lại trả tiền chủ yếu là phần vàng nguyên chất, còn tiền công chế tác, đá gắn và phần kim loại pha thường không được tính lại đầy đủ. Khi so hai lựa chọn, hãy nhân trọng lượng với tỷ lệ tuổi rồi mới so, và nhớ cân trang sức có gắn đá thì phần đá cũng nằm trong số chỉ trên hoá đơn nếu tiệm không trừ riêng.

Câu hỏi thường gặp

Vàng 610 có phải vàng 14K không?

Không hẳn. Vàng 14K chứa khoảng 58,3–58,5% vàng, còn vàng 610 chứa 61%, nhỉnh hơn một chút. Hai loại gần nhau về màu và độ cứng nên dễ nhầm; khi mua bán, hãy nhìn đúng số khắc và số ghi trên hoá đơn.

Vàng 18K có bị đen không?

Vàng 18K có 25% kim loại pha nên có thể sạm nhẹ khi tiếp xúc lâu với mồ hôi, hoá chất tẩy rửa, nước có clo hoặc mỹ phẩm chứa lưu huỳnh. Rửa bằng nước ấm pha xà phòng nhẹ, lau khô bằng khăn mềm là sáng lại; đây không phải dấu hiệu vàng giả.

Vàng 24K và vàng 9999 có giống nhau không?

Vàng 24K theo định nghĩa là 24 trên 24 phần, nhưng trên thực tế người ta khắc 24K cho cả vàng 99,9% và 99,99%. Vàng 9999 là mức tinh luyện cao hơn 999 một chút. Với người dùng thông thường, hai loại có màu và độ mềm như nhau.

Một chỉ vàng nặng bao nhiêu gam?

Một chỉ vàng nặng 3,75 g, một lượng (còn gọi là một cây) bằng 10 chỉ, tức 37,5 g. Đơn vị này dùng cho mọi tuổi vàng, nên một chỉ vàng 18K nặng bằng một chỉ vàng 9999 nhưng chỉ chứa 75% lượng vàng nguyên chất.

Vì sao vàng tây bán lại bị trừ nhiều hơn vàng ta?

Khi thu mua, tiệm định giá theo lượng vàng thực trong món đồ. Vàng tây phải nấu chảy, tách và tinh luyện lại, tốn công và có hao hụt, còn tiền công chế tác ban đầu không được tính lại. Vàng ta tuổi cao ít phải xử lý nên chênh lệch mua vào bán ra thường thấp hơn.

Vàng non là gì?

Vàng non là cách gọi dân gian cho vàng tuổi thấp, tức tỷ lệ vàng ít, thường dưới 14K. Cũng có nơi dùng từ này cho đồ được quảng cáo tuổi cao nhưng thực tế tuổi thấp hơn. Cách tránh là đọc ký hiệu khắc và yêu cầu hoá đơn ghi tuổi vàng cụ thể.

Bài viết liên quan

Có câu hỏi hay góp ý? Viết cho Nhím Lông Xanh

Thấy bài sai, muốn đề xuất chủ đề, hay có điều muốn hỏi? Để lại lời nhắn, Nhím Lông Xanh sẽ trả lời.